LỄ NGHI PHẬT MÔN

Print Friendly, PDF & Email

LỄ NGHI PHẬT MÔN

Nho gia nặng về lễ nhạc, Phật môn xem trọng oai nghi. Sau khi Phật pháp truyền vào Trung Quốc liền dung hòa với nền văn hóa lâu đời của Trung Quốc và hình thành nên lễ nghi Phật môn. [Lễ nghi này] vừa điều phục thân tâm, nung luyện tánh khí, vừa trợ giúp việc hoằng dương Phật pháp giáo hóa chúng sanh, lợi ích thế gian và đạo pháp. Vào triều đại nhà Tống, nhà nho Trình Y Xuyên thường hay viếng cảnh chùa, thấy chư Tăng xuất đường rất oai nghi, ông vô cùng thán phục, nói: “Tam đại lễ nhạc, tận tại thị!” (lễ nhạc của ba triều đại [Hạ, Thương, Chu], đều có mặt ở đây). Có thể thấy sự chuyển hóa và sức thu hút của lễ nghi.

Xin giới thiệu giản lược như sau:

  1. Yêu Cầu Căn Bản.
  • Ba nghiệp phải thành kính: Lễ nghi Phật môn, phải hợp với hành vi, nghi thức, lễ tiết và giới luật của Phật giáo. Nó ăn sâu vào nội tâm của một người tín ngưỡng Phật pháp kiền thành, và tự biểu hiện hành vi cung kính trên ba phương diện thân thể, ngôn ngữ và tư tưởng, gọi là “Thành ư trung, nhi phát ư ngoại” (lòng thành bên trong thể hiện ra bên ngoài). Cho nên, nếu có thể tín tâm đoan chánh, ba nghiệp thành kính thì mới gọi là căn bản.
  • An tường, ổn đáng. Nhà Phật thường nói “Ba ngàn oai nghi, tám vạn hạnh nhỏ”. Có thể thấy, lễ nghi Phật môn rất nghiêm ngặt, tỉ mỉ, tuy nhiên đặc tính căn bản là an tường và ổn đáng, không khinh suất, vọng động. An tường thì thân điềm đạm, tâm thanh tịnh; ổn đáng thì tín tâm gia tăng.
  1. Niệm Phật đường Nghi Quy:

Niệm Phật đường là nơi thờ A-Di-Đà Phật, Tây Phương Tam Thánh, nơi đại chúng chuyên tâm niệm Phật cầu sanh. Có câu: “Không có việc thì không vào điện thờ Tam Bảo”. Cho nên, khi vào Niệm Phật đường cũng phải có lễ nghi.

  1. Để biểu thị tâm cung kính, không được đi vào cửa giữa mà phải đi ở hai cửa hai bên. Nếu đi vào cửa bên trái thì bước chân trái trước, đi vào cửa bên phải thì bước chân phải trước.
  2. Ngoại trừ kinh Phật, tượng Phật, pháp khí và vật cúng, những thứ khác không được mang vào Niệm Phật đường.
  3. Duy chỉ có tụng kinh, lễ Phật, quét dọn, thắp nhan, thắp đèn mới được vào. Không thể tùy ý đi lại trong Niệm Phật đường.
  4. Trước khi vào Niệm Phật đường phải rửa tay, rửa mặt, mang vớ, mặc áo hải thanh, đoan tâm chánh ý. Sau khi vào Niệm Phật đường, thành tâm lễ Phật ba lạy, sau đó có thể chắp tay cung kính chiêm ngưỡng tượng Phật, thầm niệm Phật hiệu, hoặc đọc thầm bài kệ:

“Nhược đắc kiến Phật,

Đương nguyện chúng sanh,

Đắc vô ngại nhãn,

Kiến nhất thiết Phật”.

  1. Bên trong Niệm Phật đường chỉ có thể đi vòng bên hữu, không thể đi ngược chiều kim đồng hồ, là biểu thị chánh đạo. Đại chúng cộng tu niệm Phật nên chú ý, khi đi kinh hành không được dừng lại vái, xá (vấn tấn) tượng Phật, và ngay tại góc rẽ cũng không dừng lại vái, xá, chỉ cần hướng về phía trước hai tay kết định ấn, đưa lên ngang mày (tề mi) là được.
  2. Ngoại trừ lúc nghe kinh, niệm Phật, trong Niệm Phật đường không được ngồi bàn luận chuyện thế tục, càng không được lớn tiếng, gây ồn ào, thậm chí thảo luận Phật pháp cũng không thể lớn tiếng nói cười, tốt nhất nên chỉ ngữ, cấm ngữ (tịnh khẩu).
  3. Trong Niệm Phật đường không được gác chân, dựa vách, dựa bàn, chống cằm, chống nạnh, không vấy bẩn vào tường. Ngồi thì không ngồi chồm hổm; đứng thì đứng thẳng chắp tay (hiệp chưởng) hoặc Thiền ấn để biểu thị cung kính.
  4. Trong Niệm Phật đường không nên khạc nhổ, xì hơi, nếu bất đắc dĩ thì nên đi ra bên ngoài. Ngáp thì lấy tay áo che miệng, nếu có nước miếng, nước mũi thì dùng khăn ướt lau, xong cho vào trong túi, không thể đi ra đi vào làm ảnh hưởng đại chúng.

III. Kính Phật.

Phật là Vô Thượng đại sư, cứu chúng sanh đang chìm đắm trong biển khổ, trong nhà lửa tam giới, giúp chúng sanh trừ bỏ tà kiến quay về chánh giác.

  1. Không được bình phẩm tượng Phật trang nghiêm hay không trang nghiêm, phàm tượng Phật không được thờ trong phòng ngủ.
  2. Cúng Phật phải nên dùng hoa tươi, nước trong, đèn, hoa quả, hương thơm, không được cúng đồ mặn.
  3. Phàm đi qua nơi có tượng Phật phải nên chỉnh trang y phục, lễ bái hoặc chắp tay cúi đầu xá. Trong Niệm Phật đường phải nên lễ bái, nếu không có thời gian hay có điều bất tiện không thể lễ bái thì có thể chắp tay cúi đầu xá.
  4. Thấy tượng Phật bị hư hỏng hoặc không sạch, phải tận tâm tu sửa phục hồi, lau rửa cho sạch. Nếu không có biện pháp tu sửa, với tâm cung kính vừa niệm Phật vừa thiêu hóa, sau đó lấy tro đem chôn hoặc rãi xuống sông, không để người khác giẫm đạp.
  5. Dâng hương: Tâm chân thành chỉ cần dâng một nén hương là được, dùng ngón cái và ngón trỏ cầm hương, ba ngón kia khép lại, hai tay cầm hương đưa lên ngang mày, quán tưởng Phật, Bồ Tát thị hiện trước mặt chúng ta và tiếp thọ hương cúng dường, hoặc tịnh niệm “Nam mô A-Di-Đà Phật”. Nếu muốn dâng ba nén thì nén hương thứ nhất cắm vào giữa lư hương (miệng niệm, cúng dường Phật), nén hương thứ hai cắm vào bên phải (cúng dường Pháp), nén hương thứ ba cắm vào bên trái (cúng dường Tăng), chắp tay (cúng dường tất cả chúng sanh). Sau khi cắm hương vào lư, có thể lùi lại nửa bước rồi chắp tay cúi đầu xá.
  6. Đầu hương cháy không được dùng miệng thổi.
  7. Như nhìn thấy tượng Phật hoặc kinh điển đặt ở nơi bất tịnh, phải cung kính đem đến chỗ thanh tịnh (hai tay cầm lấy kinh đưa lên ngang ngực). Nếu thấy có người đối với tượng Phật không cung kính, phải nên gặp riêng và ân cần hướng dẫn cho họ.

Lễ Phật:

  1. Không nhất thiết phải vào giữa Niệm Phật đường để lễ Phật, chỉ cần có tâm cung kính thì đứng ở vị trí nào lễ bái cũng tốt. Nên biết, chúng sanh khởi tâm động niệm, Phật liền biết, miễn là xuất phát từ tâm chí thành, tâm cung kính thì đứng ở vị trí nào cũng được.
  2. Bất luận bên trong Niệm Phật đường có bao nhiêu tượng Phật, thông thường chỉ cần lễ Phật ba lạy là tốt. Nếu trong Niệm Phật đường đại chúng đã tập hợp thì phải nương theo đại chúng đứng vào hàng, có thể chắp tay cúi đầu xá rồi đứng trang nghiêm, chứ không nên lễ bái tránh làm ảnh hưởng trật tự của đại chúng mà cũng không hợp oai nghi.
  3. Ý nghĩa việc lễ Phật:
  • Điều phục tâm kiêu căng ngã mạn.
  • Nhìn thấy Thánh Hiền, chúng ta phải phát tâm cầu tiến, nổ lực tinh tấn tu học để được như quý Ngài, gọi là “Kiến hiền tư tề”.
  • Sám trừ nghiệp chướng, trong kinh nói, “Lễ Phật một lạy tội diệt hằng sa”. Muốn diệt tội trước phải có tâm cung kính, oai nghi trang nghiêm mới có thể cảm ứng đạo giao với chư Phật, Bồ Tát hộ trì gia bị.
  1. Lễ Phật, xê dịch hai bàn chân phải chú ý để không giẫm lên áo hải thanh, không được nhấc cái mông lên cao mà phải đặt trên hai gót chân mới hợp lễ nghi. Động tác không nhanh không chậm, bên trong chân thành, bên ngoài cung kính mới cảm ứng đạo giao.
  2. Phàm có người đang lễ Phật nhất định không được bước ngang qua trước mặt họ, chúng ta có thể đi vòng theo hướng khác.
  3. Nếu có chúng xuất gia đang lễ Phật thì chúng ta phải ở phía sau, không thể ở ngang vị trí với chúng xuất gia. Tọa cụ ở giữa Niệm Phật đường là của phương trượng trụ trì lễ Phật, đại chúng không được tự ý sử dụng.
  4. Lễ Phật, không thể nhìn bề ngoài có vẻ như là rất cung kính, kỳ thực trong tâm đầy ngã mạn hoặc vì cầu danh mà tu hành cho nên mới tỏ ra cái dáng vẻ oai nghi như vậy.
  5. Nếu có duyên sự không tiện lễ bái, có thể chắp tay khom lưng cuối đầu xá, trong tâm chân thành cung kính.
  6. Kính Pháp:

Pháp là vô thượng lương dược có thể giúp chúng sanh đoạn phiền não độc bệnh, pháp thân thanh tịnh.

  1. Thỉnh kinh, cầm kinh:
  • Muốn thỉnh kinh văn (để đọc tụng) trước phải chắp tay cung kính (thầm niệm A-Di-Đà Phật), hai tay cầm lấy kinh đưa lên ngang mày, rồi đưa xuống ngang ngực (hoặc để trên giá đọc kinh). Cầm kinh phải dùng hai tay, kinh văn ở giữa ngón trỏ và ngón giữa, ngón trỏ và ngón cái ở bên trên, ba ngón còn lại ở bên dưới.
  • Phàm cầm kinh văn, tượng Phật phải dùng hai tay đưa lên ngang ngực, không được cầm một tay đi đi lại lại, rồi tùy tiện đặt để lung tung, tuyệt đối không được kẹp kinh vào nách.
  1. Đọc, tụng, xem kinh:
  • Đọc, xem kinh Phật phải ngồi ngay ngắn trang nghiêm như đang đối trước Phật, Bồ Tát, không thể vừa ngồi vừa gác chân, dựa lưng mất vẻ cung kính. Muốn đọc, xem kinh, trước phải ngồi tịnh niệm giây lát, niệm thầm kệ:

Vô thượng thậm vi diệu pháp

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ.

Ngã kim kiến văn đắc thọ trì.

Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”.

Không thể vừa đọc, xem kinh, vừa ăn cái gì đó.

  • Đọc kinh tất phải để ý tới ý nghĩa từng câu chữ, cùng tâm tương ứng, không thể đọc qua loa lấy lệ.
  • Kinh Phật phải bảo quản cẩn thận, giữ gìn sạch sẽ không để bụi bẩn bám. Trên kinh có bụi phải lấy khăn lau sạch, không được dùng miệng để thổi. Không được để sách thế tục và tạp vật trên kinh Phật. Kính pháp như kính Phật.
  • Cá nhân tụng kinh không nên làm trở ngại người khác, phải nên duyên theo đoàn thể mà tụng niệm.
  • Đọc kinh dở chừng có thể lấy giấy làm dấu trang, không được xếp gấp trang kinh lại.
  • Kinh điển chuyên dùng đọc tụng thì không được viết chữ lên. Nếu vạn bất đắc dĩ thì có thể dùng bút chì, sau khi đọc tụng thuộc phải xóa đi.
  • Trong lúc đọc, xem kinh, nếu có người viếng thăm có thể chắp tay đáp lễ, lấy giấy làm dấu trang rồi gấp kinh lại mới đứng dậy đón khách. Muôn ngàn không thể chưa gấp kinh mà đã đối trước kinh điển nói chuyện thế tục, nói cười lớn tiếng, đây là hành vi khinh thường Pháp bảo. Nếu ho phải lấy tay áo che miệng. Cũng không thể chưa đọc xong mà sanh tâm phiền não. Nên biết, mục đích đọc tụng kinh là khai trí tuệ, niệm Phật là bồi dưỡng tín tâm, nguyện lực, ăn chay là trưởng dưỡng lòng từ bi.
  • Khi đọc kinh nếu có sanh tạp niệm thì phải gấp kinh lại, đến khi hết tạp niệm rồi mới đọc trở lại.
  • Đọc kinh xong, không thể để một nửa trên bàn, một nửa ngoài bàn, đối với kinh điển phải có tâm cung kính. Chẳng những đối với kinh điển mà áo hải thanh, tràng hạt và pháp khí đều phải có tâm cung kính.
  • Kinh hư hao phải nên tu sửa. Nếu không tu sửa được, với tâm thành kính vừa niệm Phật, vừa thiêu hóa. Chỗ tro bụi còn lại nên xối nước cho sạch sẽ, không để người khác giẫm đạp.
  1. Kính Tăng.
  2. Năm tịnh đức đáng tôn kính của Tăng.
  • Phát tâm ly tục: Phát tâm dũng mãnh, thoát ly phàm tục, tu tập Bồ Đề, xứng đáng là phước điền của thế gian.
  • Hủy hoại hình hảo: Cạo bỏ râu tóc, hủy bỏ hình tướng đẹp, cởi bỏ y phục thế tục, mặc pháp phục của Như Lai, đầy đủ oai nghi như Phật.
  • Vĩnh cắt tình thân: Cắt bỏ tình thân của cha mẹ, nhất tâm tinh cần học đạo, lấy đức báo ân sanh thành.
  • Xả bỏ thân mạng: Không còn yêu tiếc thân mạng, nhất tâm cầu chứng Phật đạo.
  • Chí cầu đại thừa: Tâm thương xót tất cả chúng sanh, chuyên chí cầu pháp đại thừa, vì độ thoát hết thảy hữu tình làm phước điền của thế gian.

Tăng là vô thượng phước điền của chúng sanh, có thể khiến trời, người kính phục cúng dường tứ sự. Với năm tịnh đức này của chư Tăng, chúng ta phải kính Tăng như kính Phật.

  1. Kính Tăng:
  • Gặp người xuất gia phải cung kính chắp tay, niệm “A-Di-Đà Phật”. Phải có thái độ và cử chỉ kính nhường.
  • Giữa đường giữa xá, lúc tĩnh tọa, tụng kinh, kinh hành niệm Phật, lúc tắm rửa, trong nhà vệ sinh, trên xe thuyền, lúc nằm ngủ thì không nên lễ bái chư Tăng.
  • Được chư Tăng giao phó công việc, phải tận tâm tận lực làm cho thật tốt. Không được thỉnh nhờ chư Tăng mang xách đồ vật giúp chúng ta, (tỷ như, có người biết chư Tăng phải ra nước ngoài, liền thỉnh nhờ chư Tăng mang giúp hóa mỹ phẩm, thuốc lá, rượu miễn thuế…, điều này không hợp lý. Người xuất gia nếu có cơ hội ra nước ngoài cũng không nên giúp người mang giúp đồ vật, hành lý, bởi vì trong đó có thể cất dấu dược vật, hàng lậu…, điểm này phải cẩn thận).
  • Đảnh lễ chư Tăng, có thể chí thành lễ một lạy. Nếu chư Tăng khiêm tốn không nhận lễ thì chắp tay cúi đầu xá, không nên cố chấp làm theo ý của mình. Nếu như hướng về chư Tăng nói “đảnh lễ đại đức tam bái”, mà chư Tăng không nói “miễn bái”, hoặc nói “có thể một bái” thì vẫn phải lễ ba lạy.
  • Lúc gặp chư Tăng mà trong tay chúng ta đang cầm kinh Phật thì hai tay cầm kinh đưa kinh ngang mày, hướng về chư Tăng nói: “A-Di-Đà Phật”, hoặc “Chào sư phụ”.
  • Không được lén nghe chúng xuất gia tụng Giới Kinh.
  • Không được nói lỗi của người xuất gia. Không được cùng người xuất gia kết làm cha mẹ, huynh đệ, tỷ muội.
  • Không cùng người xuất gia sống chung nhà, nếu bất đắc dĩ có thể chung nhà nhưng không thể chung phòng, chung giường.
  1. Xưng hô với chư Tăng:
  • Đối với người xuất gia thì chúng ta không được gọi húy danh. Với Tỳ Kheo lớn tuổi phải tôn xưng là, “__ Lão pháp sư”, “__ Lão hòa thượng”, “__ Thượng nhân”, hoặc “Sư ông”, “Sư phụ”, “Pháp sư”. Với Tì Kheo ni lớn tuổi phải tôn xưng là “Ni sư”, hoặc “Sư phụ”, “Pháp sư”. Nếu không nhận biết là Tỳ Kheo hoặc Tì Kheo ni thì đều có thể tôn xưng là “Sư phụ”.
  • Muốn hỏi tôn hiệu của chư Tăng, trước phải chắp tay “A-Di-Đà Phật”, sau đó mới hỏi: “Cho con mạn phép hỏi tôn hiệu của Thầy” hoặc “Xin hỏi Thầy, Thầy thượng gì?, hạ gì?”.
  • Ở trước chư Tăng không thể xưng “Tôi”, có thể tùy vào mối quan hệ mà xưng: “Kẻ hậu học”, “Vãn học”, “Mạt học”, “Học nhân”, “Đệ tử”, [thông thường nhất là xưng “Con”].
  1. Cùng chư Tăng nói chuyện:
  • Nếu có nghi vấn muốn thỉnh ý chư Tăng, phải nói: “Thỉnh sư phụ khai thị”. Thỉnh khai thị, phải xin chư Tăng định thời gian để không ảnh hưởng đến việc tu trì của chư Tăng. Nếu chư Tăng ở trên lầu thì phải lên lầu; nếu chư Tăng ở dưới lầu thì phải xuống dưới lầu, không thể ở trên lầu hay dưới lầu kêu réo chư Tăng.
  • Chư Tăng hỏi thì phải cung kính chắp tay trả lời.
  • Cùng với chư Tăng nói chuyện, không thể đứng, ngồi ngang hàng hay cao hơn chư Tăng, cũng không thể đứng giữa đường, giữa lối nói chuyện.
  • Chư Tăng đang cùng khách trò chuyện, không được thất lễ ngắt lời, có thể ra bên ngoài ngồi đợi, có thể đứng yên lặng ở phía sau, khi chư Tăng cho phép thì mới được thưa chuyện, không thể khinh suất chen lời, đánh mất kính ý. Nếu có việc rất quan trọng, vạn bất đắc dĩ thì trước phải nói lời xin lỗi trước, sau đó mới thưa thỉnh.
  • Chư Tăng xem kinh, viết sách, công phu thời khóa hoặc nghỉ ngơi, thì không nên tự ý vào gặp.
  1. Bốn Oai Nghi:

Muốn liễu thoát sanh tử, trước phải tuân theo khuôn phép quy củ. Khổng Tử chế lễ nghi, soạn nhạc cũng chỉ vì dạy người theo khuôn phép, cùng với oai nghi giới luật của Phật giáo không khác. Tự thân chấp trì thì trừ được tập khí xấu, tâm có chỗ nương tựa. Do vậy người xưa chế định bốn oai nghi cho người Phật tử là Hành (đi), Trụ (đứng), Tọa (ngồi), Ngọa (nằm), gọi là “Hành như phong, trụ như tùng, tọa như chung, ngọa như cung”.

  1. Hành như phong (đi như gió, tự tại không vướng mắc).

Cử chỉ động bộ, tâm bất ngoại trì, vô hữu khinh táo, thường tại chánh niệm, dĩ thành tam muội, như pháp nhi hành dã”, (cử chỉ bước đi, tâm không hướng ngoại cảnh, không chậm cũng không vội, luôn trong chánh niệm, dễ thành tam muội, đúng như pháp mà đi).

Khi đi, từng bước từng bước nhẹ nhàng, hai mắt nhìn thẳng, không nhìn ngang ngó dọc, không kéo lê gót chân, cử chỉ trang trọng mà an nhiên, tâm thường trong chánh niệm (niệm Phật).

  1. Trụ như tùng (đứng thẳng như cây tùng).

Phi thời bất trụ hoặc trụ thời, tùy sở trụ xứ thường niệm cúng dường, tán thán kinh pháp, quảng vi nhân thuyết, tư duy kinh nghĩa, như pháp nhi trụ dã”, (không đứng phi thời, nếu có đứng thì phải đúng chỗ, thường nhớ nghĩ cúng dường, khen ngợi kinh pháp, rộng vì người giảng nói, tư duy nghĩa kinh, như pháp mà đứng).

Khi đứng phải đứng thẳng giống như cây tùng an nhiên vững chãi trên mặt đất. Hai chân đứng hình chữ bát (八), không dựa vách, không xoay qua nghiêng lại, không lắc lư thân hình. Đứng cũng phải đứng ở chỗ nơi thích hợp, tâm thường trong chánh niệm.

  1. Tọa như chung (ngồi vững như đại hồng chung).

Già phu yến tọa, đế quán thật tướng, vĩnh tuyệt duyên lự, trừng trạm hư tịch, đoan túc oai nghi, như pháp nhi tọa dã”, (kiết già tĩnh tọa, quán sâu thật tướng các pháp, dứt bặt các buồn lo, thanh tịnh như hư không, oai nghi đoan chánh, như pháp mà ngồi).

Ngồi phải thật vững vàng như đại hồng chung, [khi ngồi sống lưng phải thẳng, từng đốt cột sống phải xếp trên một đường thẳng, cổ thẳng, hai đầu gối chạm đất để phụ với xương cùng đỡ thân hình giúp chúng ta ngồi được lâu]. Không thể ngồi chồm phía trước, ngửa phía sau, nghiêng qua bên trái, ngã sang bên phải. Tư thế ngồi kiết già (liên hoa tọa, hàng ma tọa, sư tử tọa) rất đẹp, tỏa ra đạo lực có thể khiến người phát khởi niềm tin. Tâm thường trong chánh niệm.

  1. Ngọa như cung (nằm như hình chữ cung 弓).

Phi thời bất ngọa, vi điều nhiếp thân tâm, hoặc tạm thời ngọa, tắc hữu vi yến an, bất vong chính niệm, tâm vô hôn loạn, như pháp nhi ngọa dã”, (không nằm phi thời, vì điều nhiếp thân tâm, nếu có tạm nằm phải nằm nghiêng hông bên hữu, không quên chánh niệm, tâm không hôn loạn, như pháp mà nằm).

Nằm như hình chữ cung, nằm nghiêng hông bên hữu, đêm không có ác mộng. Tâm thường trong chánh niệm, muốn điều dưỡng thân tâm phải như pháp mà nằm.

Cổ đức có bài kệ:

Cử Phật âm thanh mạn thủy lưu,

Tụng kinh hành đạo nhạn hành du.

Hiệp chưởng đương hung như phủng thủy,

Lập thân đảnh thượng tự an du.

Chiêm tiền cố hậu khinh di bộ,

Tả hữu hồi toàn bán triển mâu.

Oai nghi động tĩnh thường như thử,

Bất uổng không môn tố Tỳ kheo.

Tạm dịch:

Niệm Phật âm thanh, nước chảy chậm,

Tụng kinh hành đạo, nhạn du hành.

Chắp tay trước ngực, như bưng nước,

Thân thẳng, trên đầu dầu một chén.

Xem xét trước sau, bước nhẹ nhàng,

Xoay chuyển qua lại, mắt khép hờ.

Oai nghi động tĩnh thường như thế,

Chẳng uổng cửa Thiền làm Tỳ kheo.

[Trong Niên Phổ của Hư Vân lão hòa thượng, ngài giảng giải bài kệ này như sau:

Niệm Phật: Miệng niệm Phật, tâm tưởng Phật, dùng trí quán chiếu, âm thanh không nhanh không chậm như dòng nước chầm chậm trôi, miệng niệm tai nghe, không khởi vọng tưởng, niệm niệm nối nhau chảy vào biển Tát Bà Nhã (Nhứt Thiết Trí Hải). Một câu Phật hiệu này có vô lượng công đức, một câu Phật hiệu này có thể độ vô lượng chúng sanh.

Hành đạo: Tức là kinh hành, từng bước từng bước nhẹ nhàng thanh thoát, chẳng loạn, không nghiêng bên đông, ngã bên tây, có thứ tự như đàn nhạn bay trên bầu trời, người trước người sau bước chân thật đều, không áp sát quá cũng không cách thưa quá, tất cả mọi động tác đều phải dụng công.

Chắp tay: Hai bàn tay khép lại không trống ở giữa, mười ngón tay khép khít với nhau, không so le, tựa như đang bưng chén nước vậy, nếu nghiêng một bên thì nước liền đổ.

Trạm như tùng: Thân đứng thẳng như cây tùng, hai chân hình chữ bát (八), phía trước (hai ngón chân cái) khoảng tám phân, phía sau (hai gót chân) khoảng hai phân, thân thẳng, đầu thẳng, gáy tựa sát cổ áo, như có chén dầu trên đầu vậy, nếu nghiêng thì dầu sẽ đổ.

Hành như phong: bước chân nhẹ nhàng, không một chút vướng mắc, phải chú ý trước sau, không kéo lê dép, đi lên xuống lầu chớ làm gây tiếng động, chẳng giẫm đạp lên cỏ xanh, phải yêu mến hộ trì sinh vật. Khi mở mắt nhìn chỉ mở phân nửa, nhìn không quá ba đến năm, bảy thước.

Đi đứng ngồi nằm có đầy đủ oai nghi khiến người khác vừa nhìn liền sanh tâm kính trọng].

VII. Phép tắc.

Trong Phật môn khi gặp nhau chúng ta thường chắp tay, chào “A-Di-Đà Phật”, cúi đầu xá (vấn tấn), đảnh lễ (bái).

  1. Hiệp chưởng (chắp tay): Hai tay để trước ngực, khép mười ngón tay lại, (có nghĩa là nhất tâm, thập pháp giới hợp thành nhất chân pháp giới). Đây là động tác chào nhau rất lễ phép của người Ấn Độ xưa, chắp hai bàn tay lại, tập trung tâm tư biểu đạt ý nghĩa cung kính.
  2. Vấn tấn (xá), tức là hướng về sư trưởng chắp tay cúi đầu hỏi thăm bậc tôn thượng có khỏe không. Đa phần Phật giáo đồ Trung Hoa, sau khi lễ Phật thường “Hiệp chưởng, vấn tấn, tề mi, hiệp chưởng” (chắp hai bàn tay lại, cung kính khom lưng cúi đầu, đứng thẳng thủ ấn và đưa lên ngang mày, rồi đưa xuống chắp tay trước ngực).
  3. Bái (đảnh lễ). Gọi là “Đầu diện lễ, tiếp túc lễ”, hai đầu gối, hai khủy tay và đầu chạm đất. Thường gọi là “Ngũ thể đầu địa” (Lễ Phật có video hướng dẫn chi tiết cụ thể).
  4. Khi Phật tử gặp nhau, đa phần đều chắp tay xá chào và niệm “A-Di-Đà Phật”. A-Di-Đà Phật là dịch âm từ Phạn ngữ, ý nghĩa là “Vô Lượng Thọ”, “Vô Lượng Quang”. Một câu A-Di-Đà Phật bao hàm toàn thể hư không pháp giới, ý nghĩa vô cùng thâm diệu, nên khi gặp nhau không cần thiết phải hỏi thăm hay chúc phúc nữa.
  5. Có việc phải rời Niệm Phật đường đi ra bên ngoài, trước phải hướng Phật, Bồ Tát lễ tam bái, sau đến gặp sư phụ xin phép.

VIII. Thứ Tự đại chúng kinh hành.

– Tỳ Kheo trước, Sa di sau.

– Tăng trước, Ni sau.

– Xuất gia trước, cư sĩ sau.

– Nam trước, nữ sau.

  1. Áo Hải Thanh.

Nguồn gốc của áo hải thanh: Khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, do bởi khí hậu, phong tục tập quán, v.v… có thể khiến “ba y một bát” không còn phù hợp, việc mặc áo hải thanh bên trong Cà sa có lẽ thích hợp hơn. Hải thanh vốn là một loại trang phục của người địa phương tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Vì áo có cổ tay rộng thùng thình nên gọi là hải thanh. Trong các tòng lâm, tự viện của Phật môn đối với áo hải thanh cũng có hàm nghĩa khác. Hải thanh, Hải (海) là biển, biển thì rộng lớn mênh mông có thể dung nạp tất cả vạn vật. Thanh (青) là chữ thanh trong câu “Thanh xuất ư lam” (màu xanh được chiết xuất từ màu lam nhưng đậm hơn màu lam) có ẩn ý là học trò vượt trội hơn thầy, cũng có nghĩa là hy vọng đời sau vượt hơn đời trước. Mặt khác, cũng có người cho rằng tay áo hải thanh giống như đôi cánh chim, mà chim thì có thể bay lượn tự tại cho nên mới dùng tên này.

Bình thường khi chúng ta lễ Phật, tụng kinh thì mặc áo hải thanh là thích hợp nhất, dáng vẻ rất trang nghiêm, rất cung kính. Tuy nhiên, chúng ta không được mặc hoặc cởi áo ở trong Niệm Phật đường mà phải mặc ở liêu phòng.

  1. Mặc và xếp áo hải thanh (có video hướng dẫn cụ thể).
  2. Khi lên lầu, xuống lầu phải vén áo để tránh bết đất hoặc bị giẫm lên, lên lầu thì vén tà trước, xuống lầu thì vén tà sau.
  3. Khi mặc áo hải thanh thì lúc đi đứng không thể buông thõng hai tay, đánh đằng xa, có thể chắp tay hoặc Thiền ấn.
  4. Lúc quỳ, hai tay vén tà trước.
  5. Lúc tĩnh tọa hai chân không được duỗi thẳng để biểu thị tâm cung kính.
  6. Thọ Thực:
  7. Tự viện chưa cúng Ngọ thì chưa được dùng cơm (đây gọi là ăn cơm trước Phật).
  8. Nếu không có cúng Quá Đường, có thể niệm mười câu Phật hiệu trước khi ăn. Khi ăn phải ngồi ngay ngắn, đoan thân chánh ý, nhất định không được tán tâm, chuyện tạp, ăn trong chánh niệm.
  9. Phát tam nguyện: Trong nghi thức cúng Quá Đường, trước khi ăn phải khởi niệm Tam Đề và Ngũ Quán, đây là một nghi cách rất có ý nghĩa của nhà Phật. Trong Niệm Phật đường (có thể áp dụng trong tất cả các bữa ăn), trước khi ăn chúng ta niệm Phật và phát tam nguyện, là ba muỗng cơm lạt đầu tiên, mỗi muỗng niệm thầm một nguyện.
  • Nguyện đoạn nhất thiết ác, vô nhất ác bất đoạn (nguyện đoạn tất cả việc ác, không một việc ác nào không đoạn). Chư ác mạc tác.
  • Nguyện tu nhất thiết thiện, vô nhất thiện bất tu (nguyện tu tất cả điều thiện, không một điều thiện nào không tu). Chúng thiện phụng hành.
  • Thệ độ nhất thiết chúng sanh, vô nhất chúng sanh bất độ (thệ độ tất cả chúng sanh, không một chúng sanh nào không độ). Niệm Phật cầu sanh.
  1. Cách thức cầm bát, đũa: Ngón cái đặt ở trên miệng bát, bốn ngón còn lại nâng trôn bát, gọi là “Long khẩu hàm châu” (miệng rồng ngậm ngọc). Tay nâng bát ngang trước ngực, tay cầm đũa, thong thả ghắp thức ăn, đưa thức ăn vào bát, gọi là “Phượng đầu ẩm thủy” (đầu Phượng uống nước).
  2. Ăn cơm xong phải hồi hướng cho chúng sanh:

Phạn thực dĩ ngật,

Đương nguyện chúng sanh.

Thiền duyệt vi thực,

Pháp hỷ sung mãn”.

  1. Thính Pháp.
  2. Tâm thái nghe pháp: Phải chân thành tha thiết như đang cơn khát mong cầu có nước, có như vậy thì nghe pháp mới có thể diệt trừ được vọng niệm, sanh trí tuệ, một đời được tự tại.
  3. Văn, tư, tu: Để tâm chuyên chú lắng nghe, nghe xong phải tỉ mỉ tư duy tìm hiểu, sau khi hiểu rồi thì thực hành, đây mới thật sự đúng nghĩa thính pháp.
  4. Tư thế ngồi oai nghi: Ngồi ngay ngắn, cao đầu, thẳng ngực, nhiếp tâm sẽ giúp chúng ta nghe được rõ ràng hơn, thâm nhập hơn.
  5. Mặt bàn ngăn nắp: Mặt bàn là nơi để kinh điển nên chúng ta phải giữ gìn mặt bàn sạch sẽ, ngăn nắp chính là biểu hiện tâm cung kính Phật.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGƯỜI NIỆM PHẬT CẦN NÊN BIẾT

Nam Mô A-Di-Đà Phật! Đệ tử chúng đẳng, có duyên gặp nhau tại một Niệm Phật đường, đồng niệm Phật, đồng phát nguyện, đồng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.

Kính thưa chư liên hữu đồng tu. Kinh Đại-Tập dạy: “Mạt pháp ức ức nhân tu hành, hãn nhứt đắc đạo. Duy y niệm Phật, đắc độ sanh tử”. (Thời mạt pháp ức ức người tu hành, hiếm có một người đắc đạo. Duy chỉ nương vào pháp môn niệm Phật mới được độ thoát sanh tử). Đại chúng tại Niệm Phật đường đều là cụ trược phàm phu, đời này muốn liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập Thánh, tất phải chuyên tâm tu hành như phôi thép nung chảy trong lò luyện kim vậy.

Người bước vào Niệm Phật đường đều phải buông xuống vạn duyên, tin sâu, nguyện thiết, tinh tấn niệm Phật, chuyên chú vào một câu Thánh hiệu “Nam Mô A-Di-Đà Phật”, chỉ cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.

Để bày tỏ sự tôn kính chân thành đối với Phật, Bồ Tát, kiến thiết một hoàn cảnh niệm Phật trang nghiêm thanh tịnh. Để cảm ứng với A-Di-Đà Phật và được Ngài gia trì nhiếp thọ, đặc biệt lập ra “Những điều cần nên biết” bên dưới, hy vọng mọi người chúng ta nghiêm khắc tuân thủ.

  1. Niệm Phật đường lấy “Phát Bồ đề tâm, tín nguyện trì danh, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới” làm tông yếu. Thực hành theo giáo huấn (ba mươi hai chữ) của Ấn Quang đại sư: “Đôn luân, tận phận, nhàn tà, tồn thành, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành. Thật vì sanh tử, phát Bồ đề tâm, dùng tín nguyện sâu, trì danh hiệu Phật”. Không hoài nghi, không gián đoạn, không xen tạp, thật tin, thật nguyện, thật hành.
  2. Để làm tốt công việc chuẩn bị trước thời khóa cộng tu niệm Phật cũng như giúp cho Niệm Phật đường được trang nghiêm thanh tịnh, kính mong chư vị đồng tu đến trước thời gian quy định mười phút. Bước vào Niệm Phật đường xin đại chúng tuân thủ “Lục Hòa Kính”.
  3. Kính đề nghị quý đồng tu mặc áo hải thanh, mang vớ (bít tất) trắng hay xám trước khi vào Niệm Phật đường, các vật dụng khác (bao gồm pháp bảo) thì để trong tủ, không nên đem vào Niệm Phật đường. Xin đừng đem theo vật có giá trị, nếu có thì mang theo bên người.
  4. Đồng tu có áo hải thanh thì mặc áo hải thanh (chú ý không nên mặc và cởi áo trước Phật tượng).
  5. Xếp hàng và nhiễu Phật phải theo thứ tự: Sau khi vào Niệm Phật đường, lễ Phật xong, thứ tự xếp vào hàng giống như thứ tự khi kinh hành niệm Phật: Duy Na – Duyệt chúng – Tăng – Ni – Nam cư sĩ – Nữ cư sĩ. Kinh hành luôn đi bên hữu (cùng chiều kim đồng hồ).

Xuất gia trước, tại gia sau; nam chúng trước, nữ chúng sau; áo hải thanh trước, thường phục sau.

Không được làm ồn, không tự đánh pháp khí.

Tắt điện thoại di động, mỗi mỗi đều không thể làm động tâm đại chúng niệm Phật.

Cử chỉ an tường, nhẹ bước, thấp giọng, oai nghi đầy đủ, vâng lời Phật niệm A-Di-Đà Phật.

  1. Không được nói chuyện: Khi bước vào Niệm Phật đường, vạn duyên đều buông xuống, duy “Ức Phật, niệm Phật. Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế”, nương theo tiếng niệm Phật của máy hoặc của đại chúng, tâm tưởng A-Di-Đà Phật, miệng niệm A-Di-Đà Phật liên tục không ngừng nghỉ, không để xuất hiện âm thanh nào khác.

Im lặng niệm Phật. Một lời vừa thốt ra thì công phu đã bị phá hỏng hết, đã có lỗi quấy nhiễu đại chúng niệm Phật rồi. Đồng tu nên thống nhất đeo thẻ bài “Chỉ Ngữ Niệm Phật”.

  1. Trong lúc niệm Phật phải khẩn thiết, phải thành tâm thành ý, thân tâm thế giới đều buông xuống, đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế, miệng niệm tai nghe, trong tâm niệm thật rõ ràng, miệng niệm thật rõ ràng, tai nghe thật rõ ràng.
  2. Bước vào Niệm Phật đường phải đoan thân, chánh niệm, thu nhiếp thân tâm, chí thành cung kính, nhất tâm nhất ý niệm Phật. Chỉ để ý đến việc của mình, không nhìn ngó việc của người khác. Tùy thuận theo sự sắp xếp của người hộ thất, nhất nhất đều tuân theo hướng dẫn của người Duy Na (Pháp sư hoặc cư sĩ). Không nói chuyện, không bàn luận, không tranh cãi, không nói chuyện thị phi, không nghe chuyện thị phi, có ý thức duy trì trật tự của đạo tràng.
  3. Kinh hành, hoặc ngồi niệm, hoặc lạy Phật là tùy theo thể trạng của từng cá nhân. Duy lúc mới vào Niệm Phật đường cần phải đi kinh hành ít nhất là một vòng sau đó mới vào đại điện lạy Phật, hoặc ngồi xuống niệm Phật. Trong lúc ngồi niệm Phật nếu có buồn ngủ (ngủ gật), hôn trầm, trạo cử (trong tâm phiền não chẳng yên), hoặc có các hiện tượng khác,… phải lập tức thay đổi phương thức, có thể lạy Phật hoặc đi kinh hành để trang nghiêm Niệm Phật đường.

Người hộ thất, có thể chỉ ra chỗ sai trái của bạn đồng tu để họ biết mà sửa sai, nhưng phải chờ đến sau thời khóa cộng tu và gặp riêng họ. Góp ý xây dựng với bạn đồng tu cũng phải hết sức tế nhị, ăn nói nhẹ nhàng khiêm tốn, thái độ tôn trọng, cởi mở.

  1. Trong lúc niệm Phật, đại chúng nên lắng nghe tiếng pháp khí, bảo trì âm vận phù hợp, nhịp điệu phù hợp, đồ hình phù hợp.

Ngồi niệm thì hai bàn tay kết Thiền ấn. Kinh hành, đi cùng chiều kim đồng hồ, sáu chữ “Nam Mô A-Di-Đà Phật” niệm hai câu hai giai điệu, [“Nam”, “A”, “Đà”, “Phật” bước chân phải (trùng với tiếng mõ)].

Lúc niệm Phật không nên nhìn xuôi, nhìn ngược, cao giọng, lớn hầu, kéo nhựa, tông lạ. Không chậm không nhanh, niệm niệm tiếp nối, không sanh tạp niệm thì được nhất tâm bất loạn, tam muội dễ thành.

Đang trong lúc niệm Phật, muốn đi vệ sinh hay uống nước, hãy chờ đến lúc nhiễu Phật (kinh hành niệm Phật) mới có thể rời Niệm Phật đường (hay trở về vị trí).

Đại chúng có việc [cần thiết] phải đi ra ngoài thì động tác phải hết sức nhẹ nhàng, không làm ảnh hưởng đến người khác.

  1. Quý vị đồng tu từ nơi khác đến, để duy trì trật tự và đạo phong (quy củ nề nếp) vốn có của Niệm Phật đường, kính mong quý vị phải tùy thuận theo nghi thức cộng tu của Niệm Phật đường, (kể cả âm điệu, tốc độ, bước chân kinh hành niệm Phật,…) không ngồi một chỗ riêng biệt, không được tự động tụ nhóm riêng để ăn uống, hoặc bàn luận thế gian pháp hay Phật pháp, đặc biệt là không quyên góp tiền bạc.
  2. Trong Niệm Phật đường, ban hộ thất và đồng tu phụ trách cộng tu niệm Phật phải toàn tâm toàn lực hoàn thành trách nhiệm của mình như lý như pháp. Phải biết quan tâm đại chúng, khiêm tốn lắng nghe, tiếp nhận và tôn trọng ý kiến của quý đồng tu. Cùng đại chúng sống hòa thuận, tôn kính lẫn nhau, dùng tâm chí thành, tâm cung kính, tâm cảm ơn, chân thành vì đạo tràng phục vụ, bảo đảm tốt công việc cộng tu niệm Phật.
  3. Bên trong Niệm Phật đường, trước Phật, Bồ Tát, Thiên Long Hộ Pháp, kính mong mọi người vui lòng ghi nhớ: không cạy mũi, hỉ mũi, xì hơi, ngáp lớn tiếng, (động tác và âm thanh bất nhã); không khạc nhổ, vứt rác bừa bãi; sau khi đi vệ sinh, gãi ngứa, tay sờ đồ bẩn thì nhất định phải đi rửa tay. Trân quý và không lãng phí đồ vật của thường trụ, mọi thứ đều có vị trí, phải sắp xếp gọn gàng, giữ gìn xung quanh Niệm Phật đường sạch sẽ, bảo trì đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh.
  4. Để duy trì một hoàn cảnh tu hành thật tốt, một Niệm Phật đường trang nghiêm thanh tịnh, đề nghị đồ ăn, thức uống, vật dụng cá nhân đều không được đem vào Niệm Phật đường. Nếu cần đi uống nước hoặc đi nhà vệ sinh, hoặc có việc cần phải ra vào Niệm Phật đường xin hãy đợi đến lúc đại chúng kinh hành niệm Phật, hướng về tượng Phật “vấn tấn” rồi mới ra khỏi hàng. Không tự ý tắt mở máy điều hòa và công tắc điện (việc của hộ thất). Khăn dùng để kê đầu lạy Phật, hay đắp (khi lạnh) không được lót ngồi hoặc dùng vào việc khác.
  5. Kính mong đại chúng tuân thủ pháp luật của nhà nước, các quy định và chính sách của giáo hội Phật giáo. Yêu nước, quý trọng giáo hội, luôn giữ tâm tốt, nói lời tốt, làm việc tốt, là người tốt. Phát Bồ-đề tâm, trì giới niệm Phật, một môn thâm nhập, trường kỳ huân tu, chuyên tu chuyên hoằng, tự lợi lợi tha, lấy thành tựu của tất cả những người niệm Phật vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới làm trách nhiệm của mình.

Kính mong mọi người cùng nhau tuân thủ

Ghi chú: “Những điều nên biết” ở trên, nếu có vi phạm điều nào xin tự giác đến trước Phật, Bồ Tát sám hối, cư sĩ hộ thất có nghĩa vụ nhắc nhở.

Nam Mô A-Di-Đà Phật

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHƯƠNG PHÁP CỘNG TU NIỆM PHẬT

Hòa thượng Tịnh Không dạy: “Thích Ca Mâu Ni Phật một đời giảng kinh thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm, nhằm giúp chúng ta hiểu rõ chân tướng của sự thật, bởi vì “Tri nan, hành dị” (để biết thì khó, biết rồi thì làm rất dễ), nếu đã thật sự hiểu rõ rồi thì biết làm thế nào để tu, không cần mọi người hướng dẫn nữa, cho nên khi Phật Đà còn tại thế thì không có cộng tu.

Vào thời Đông Tấn, Sơ tổ Tịnh độ tông Huệ Viễn đại sư, là người đầu tiên ở Trung Quốc xây dựng Phật giáo liên xã, Đông Lâm liên xã. Viễn Công đại sư căn cứ kinh Vô Lượng Thọ thành lập phương thức cộng tu niệm Phật, tập hợp một trăm hai mươi ba người chí đồng đạo hiệp, cùng ở một chỗ cộng tu niệm Phật, cuối cùng tất cả mọi người đều được vãng sanh. Ấn Quang đại sư, vị tổ thứ mười ba Tịnh độ tông năm xưa tại Niệm Phật đường ở Linh Nham Sơn tự ngày đêm Phật hiệu không gián đoạn, đây là đại thiện không chi sánh bằng.

Hiện nay một cá nhân tu hành thì rất khó khăn, bởi vì vô lượng kiếp đến nay phiền não tập khí rất nhiều, tinh tấn rất khó, nhưng thoái chuyển thì rất dễ, vì thế tổ sư đại đức đề xướng cộng tu niệm Phật. Song ngày nay nếu chúng ta muốn cầu được pháp duyên thù thắng giống như Viễn Công đại sư thì rất khó. Thiện Đạo đại sư nói rất hay: “Cửu phẩm vãng sanh tổng tại duyên bất đồng”. Nếu có thể tìm được mười đến hai mươi người thật sự phát nguyện, lấy cầu sanh Tây Phương Tịnh độ làm mục đích, hơn nữa có thể có được vài vị hộ pháp hộ trì, giống như một đạo tràng vậy, niệm Phật trên ba năm thì quyết định vãng sanh, bởi vì điều kiện vãng sanh Tịnh độ đã đầy đủ rồi. Bởi vậy cộng tu niệm Phật là một việc lớn, việc thù thắng nhất trong Phật môn, mong mọi người cùng nhau phát tâm nổ lực”.

Phương pháp cộng tu niệm Phật cần phải chú ý những vấn đề sau:

Bởi vì chúng ta nghiệp chướng, tập khí rất nặng, nên tự tu thì năng lực không đủ, cần phải có đại chúng cùng tu, cùng khích lệ cho nhau, đây là trợ duyên rất tốt.

Nếu không có quy định thời khóa niệm Phật, khi nhớ đến thì niệm, không nhớ thì không niệm. Có thời khóa mới có ước thúc. Mọi người cùng ở một chỗ cộng tu niệm Phật theo định khóa giúp cho mỗi người có động lực tu học rất lớn, hiệu quả rất cao, tín tâm với pháp môn niệm Phật cũng rất mạnh!

Niệm Phật không nên quá nhanh cũng không nên quá chậm, thích hợp với bản thân mình là tốt nhất, phải niệm cho rõ ràng, nghe được rõ ràng, được vậy thì niệm Phật mới có thể tâm an pháp hỷ. Niệm Phật niệm đến bất niệm tự niệm, niệm niệm tương tục, niệm niệm tiếp nối không gián đoạn.

Cộng tu niệm Phật gồm các oai nghi: Nhiễu Phật (kinh hành), Tọa Niệm (ngồi niệm), Mặc Niệm (niệm trong tâm), Bái Phật (lạy Phật).

  1. Nhiễu Phật (kinh hành).

Trong mỗi một thời hương cộng tu niệm Phật, trước tiên phải kinh hành. Khởi đầu kinh hành, chắp hai tay, mắt hơi nhìn xuống, nhìn như không nhìn các đầu ngón tay, chứ không phải hết ngó đông rồi lại nhìn tây, cũng không phải nhắm mắt, [nếu nhắm mắt] thì không theo kịp hàng ngũ. Tai nghe tiếng pháp khí, nghe tiếng niệm Phật của đại chúng, từng bước từng bước khoan thai, phối hợp nhịp nhàng với âm thanh Phật hiệu, khoảng cách giữa người trước và người sau phải đều nhau, không quá sát cũng không cách thưa lắm, tất cả đại chúng rời vị trí, đi kinh hành và trở về trong trang nghiêm, thanh tịnh.

Vòng thứ nhất, khi đến chỗ góc rẽ, chân vẫn bước đều, hai tay đưa lên vấn tấn, không nên dừng lại khom lưng cúi đầu. Hai tay kết định ấn, đưa lên ngang chân mày (tề mi), sau đó đưa tay xuống, tay phải đặt ở trên, tay trái ở dưới, để ở trước bụng (trên rốn, dưới dạ dày), hai bàn tay giống như nâng một vị tôn Phật, mà vị tôn Phật này chính là tự tánh Phật của anh; hoặc giống như nâng đóa sen mà tương lai anh được vãng sanh đến Tây Phương Cực Lạc. Niệm chữ “Nam”, “A”, “Đà”, “Phật” là bước chân phải, trùng với tiếng mõ và tiếng khánh, bất luận là bao nhiêu người nhưng bước chân của đại chúng đều phải đồng loạt, phải y theo nhịp chân của người phía trước, tai lắng nghe tiếng niệm của đại chúng, miệng niệm hòa với âm thanh của đại chúng, bước chân phối hợp với pháp khí. Đây tức là “Miệng cùng với tâm tiếng tiếng tương ưng, niệm cùng với Phật bước bước không lìa”.

Khi kinh hành với bốn chữ Phật hiệu, thì bước chân phải cũng trùng với tiếng mõ. Miệng niệm “A-Di-Đà Phật”, tâm chú ý lắng nghe tiếng niệm của đại chúng, bước chân di chuyển nhịp nhàng với Phật hiệu. Như vậy thân, khẩu, ý tam nghiệp tương ưng, đó là phương pháp kinh hành niệm Phật tốt nhất, chính mình sẽ cảm được giác tinh thần, thể xác rất thoải mái, tự tại.

Nhịp chân kinh hành niệm Phật.

  • Sáu chữ Phật hiệu (nhanh):

Nam       mô  A       Di       Đà    à à a   á    Phật

Ⓟ      Ⓣ      Ⓟ      Ⓣ      Ⓟ      Ⓣ      Ⓟ

°O                    O                  °O                    O

  • Sáu chữ Phật hiệu (chậm):

Nam       mô  A       Di       Đà    à à a   á    Phật

Ⓟ               Ⓣ               Ⓟ               Ⓣ

°O                   O                  °O                    O    

  • Bốn chữ Phật hiệu (nhanh):

A        Di      Đà     Phật

Ⓟ      Ⓣ      Ⓟ      Ⓣ

O                    °O     

  • Bốn chữ Phật hiệu (chậm):

A        Di      Đà     Phật

Ⓟ               Ⓣ

O                    °O

Có rất nhiều phương pháp niệm Phật, như trì danh niệm Phật, quán tưởng niệm Phật, quán tượng niệm Phật, thật tướng niệm Phật v.v… nhưng trong Phật thất tinh tấn thường dùng trì danh niệm Phật là chủ yếu, trong trì danh niệm Phật lại chọn cao thanh niệm Phật (niệm Phật lớn tiếng).

Trì danh niệm Phật có năm bậc:

  1. Xướng Phật hiệu (xưng danh hiệu Phật).

Miệng niệm Phật nhưng trong tâm khởi vọng tưởng, đây không phải là niệm Phật, mà gọi là xướng Phật hiệu, nhưng so ra xướng Phật hiệu cũng tốt hơn nói chuyện tầm phào, bởi vì miệng xướng Phật hiệu cũng có công đức rất lớn vậy.

  1. Tán tâm niệm Phật.

Trong lúc niệm Phật nhưng tâm vẫn còn một chút vọng tưởng và tạp niệm, hoặc vẫn còn đầy rẫy tạp niệm, nhưng trong tâm biết là mình đang niệm Phật. Nhiều người thêm chữ khẩu (口) vào chữ niệm (念) trở thành chữ niệm có bộ khẩu (唸), [mới nghe qua] có vẻ đúng nhưng hình như cũng không đúng, nếu không dùng miệng để niệm mà niệm thầm trong tâm (mặc niệm) thì có được tính là niệm Phật hay không? Được tính, bởi vì tán tâm niệm Phật có niệm thầm và niệm ra tiếng, niệm thầm thì dùng tâm, niệm ra tiếng thì dùng miệng. Niệm Phật, trên thực tế “Niệm” có nghĩa là niệm niệm không quên, mỗi một người niệm Phật đều muốn theo A-Di-Đà Phật, đều cùng A-Di-Đà Phật tương ưng, đây mới gọi là niệm Phật.

  1. Chuyên tâm niệm Phật.

Trong tâm không tạp niệm, vọng tưởng, một câu Phật hiệu A-Di-Đà Phật không gián đoạn, từng câu từng chữ rõ rõ ràng ràng, không có vọng niệm. Nếu có vọng niệm thì lập tức niệm lớn tiếng, niệm Phật lớn tiếng phải chú ý nghe tiếng niệm của chính mình, nghe tiếng niệm của đại chúng thì vọng niệm sẽ dần dần tan biến, tâm chấp trước cũng từ từ giảm dần mà phiền não cũng từ từ lắng dịu. Niệm Phật có thể niệm đạt đến tâm thư thái, không còn trở ngại. Tinh thần “Xả kỷ tùng tha” (bỏ ta theo người) là thái độ căn bản của người tu hành cũng là phương pháp tốt nhất để tiêu trừ nghiệp chướng.

  1. Nhất tâm niệm Phật.

Niệm Phật niệm đến bất niệm mà tự niệm, niệm niệm tương tục, niệm niệm tiếp nối không gián đoạn, chẳng kể có tiếng hay không có tiếng, trong tâm có Phật hiệu hay không có Phật hiệu, niệm niệm đều không rời câu Phật hiệu. Ban ngày niệm, ban đêm niệm, đi đứng, nằm ngồi cũng niệm, mặc áo, ăn cơm cũng niệm, có khi miệng niệm, có khi tâm niệm, niệm bốn chữ hoặc sáu chữ cũng không quan trọng, câu Phật hiệu ở trong tâm không gián đoạn mới là quan trọng nhất.

  1. Vô tâm niệm.

Đây là đã khai ngộ rồi, chẳng kể trong tâm có Phật hiệu hay không, thời thời chốn chốn, niệm niệm đều cùng với bi nguyện và trí tuệ của Phật hoàn toàn tương ưng. Thiền tông gọi khai ngộ, Tịnh độ tông gọi thân kiến tự tánh Di Đà.

  1. Tọa Niệm (ngồi niệm):

Sau khi kinh hành, trở về vị trí ngồi xuống, trước phải vén khéo các vạt áo hải thanh cho gọn gàng thẳng thóm, cơ thể ngồi thẳng, có thể ngồi kiết già, bán già, cũng có thể ngồi với tư thế an ổn và thoải mái nhất. Khi nghe tiếng chuông, chắp hai tay lại, chuyển niệm Phật hiệu từ sáu chữ sang bốn chữ, nghe tiếng chuông thứ hai đưa tay xuống kết Thiền ấn (tay phải ở trên, tay trái ở dưới), cơ thể buông lỏng, ánh mắt nhìn xuống tự nhiên, lúc này nên nhiếp tâm chuyên chú niệm Phật. Âm thanh Phật hiệu không quá cao cũng không quá thấp, không niệm với âm điệu lạ, âm thanh âm điệu phải hòa hợp với âm thanh của đại chúng và pháp khí (địa chung).

  • Mặc Niệm (niệm trong tâm):

Sau thời niệm Phật nhanh [với địa chung] có năm phút tịnh niệm, nghĩa là vẫn tiếp tục niệm Phật không ngừng nhưng niệm trong tâm, tuy lúc này không có ai niệm ra tiếng nhưng phải nhớ được âm thanh niệm Phật của đại chúng vừa mới niệm, trong tâm niệm niệm không gián đoạn, cố gắng không phân tâm, không ngủ gật. Nếu lúc mặc niệm mà trong tâm vẫn còn vọng tưởng rất nhiều thì nên áp dụng pháp “Ký số niệm Phật”, niệm mười câu Phật hiệu, niệm câu thứ nhất nhớ một, niệm câu thứ mười nhớ mười, đến câu thứ mười phải bắt đầu trở lại câu thứ nhất. Cứ như thế lặp đi lặp lại, biết mình đang niệm Phật, biết mình đang ký số. Nếu như đang niệm Phật rất nhanh rồi dừng lại tịnh niệm, tâm vẫn rất tập trung, vẫn niệm Phật được nhanh thì không nên áp dụng pháp “Ký số niệm Phật”.

[Trong Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao, thư gởi cho cư sĩ Cao Thiệu Lân, Ấn tổ dạy pháp “Thập niệm ký số” như sau:

“Nếu như niệm Phật mà tâm khó quy nhất, hãy nên nhiếp tâm khẩn thiết niệm. Muốn nhiếp tâm thì trước phải chí thành, khẩn thiết, không chí thành mà muốn nhiếp tâm thì chẳng thể được. Nếu đã chí thành mà vẫn chưa thuần nhất thì phải chăm chú lắng nghe, bất luận niệm thầm hay niệm ra tiếng, “Niệm” là từ “Tâm” khởi, âm thanh từ “Miệng” niệm ra, “Tai” nghe vào (dù niệm thầm nhưng trong tâm ý vẫn có tướng miệng niệm). Tâm và miệng niệm thật rõ ràng, tai nghe thật rõ ràng. Nhiếp tâm như thế thì vọng niệm tự dứt.

Nếu làn sóng vọng niệm vẫn còn mạnh thì dùng pháp “Thập niệm ký số”, đem hết tâm lực chuyên chú vào âm thanh Phật hiệu, dẫu vọng niệm có khởi lên cũng không có chỗ để chen vào. Trước kia, những vị hoằng dương Tịnh độ chưa nói đến pháp nhiếp tâm niệm Phật vi diệu cứu cánh này là vì căn tánh của người thời đó thượng lợi, không cần dùng cách này vẫn có thể được quy nhất. Ấn Quang tôi vì tâm khó điều phục, đã nhiều lần thử nghiệm có hiệu quả, mới biết phương pháp này hay, chẳng phải suy đoán nói bừa, nguyện cùng thiên hạ độn căn đời sau cùng nhau tu tập, khiến vạn người tu vạn người được đi.

Gọi là “Thập niệm ký số” nghĩa là trong lúc niệm Phật niệm từ câu thứ nhất đến câu thứ mười phải niệm phân minh, nhớ phân minh, chỉ mười câu thôi, đến câu thứ mười thì trở lại câu thứ nhất, không được hai mươi, ba mươi câu. Niệm đến đâu nhớ đến đó, không được lần chuỗi, chỉ dùng tâm ghi nhớ. Nếu niệm một mạch mười câu thấy khó nhớ thì phân thành hai hơi, từ câu thứ nhất đến câu thứ năm, từ câu thứ sáu đến câu thứ mười. Nếu vẫn còn thấy mệt thì phân làm ba hơi để niệm, từ câu thứ nhất đến câu thứ ba, từ câu thứ tư đến câu thứ sáu, từ câu thứ bảy đến câu thứ mười. Niệm thật rõ ràng, nhớ thật rõ ràng và nghe thật rõ ràng thì vọng niệm không có chỗ chen chân vào. Niệm lâu ngày sẽ tự được nhất tâm bất loạn.

Nên biết, “Thập niệm ký số” này cùng với “Thần triêu thập niệm” (pháp mười niệm buổi sáng của ngài Từ Vân), về phần “nhiếp vọng” thì giống nhau, nhưng phần “dụng công” thì khác xa. Với “Thần triêu thập niệm” thì không luận là bao nhiêu câu Phật hiệu, cứ hết một hơi là tính một niệm, mỗi sáng sớm chỉ có thể niệm mười hơi mà thôi, nếu niệm hai mươi, ba mươi hơi sẽ tổn khí thành bệnh. Còn “Thập niệm ký số” thì niệm một câu Phật hiệu trong tâm biết một câu, niệm mười câu trong tâm biết mười câu, từ một đến mười rồi trở lại từ một đến mười, dù mỗi ngày niệm mấy vạn câu cũng phải nhớ như thế, chẳng những trừ được vọng niệm, mà lá cách dưỡng thần tốt nhất. Niệm nhanh, niệm chậm hoàn toàn không trở ngại, từ sáng đến tối đều rất thích hợp.

Nếu lại so với cách “Kháp châu ký số” (lần chuỗi nhớ số), thì “Thập niệm ký số” lợi ích hơn nhiều, vì lần chuỗi thì thân lao mà thần động, còn cách này thì thân nhàn mà tâm an. Nếu trong lúc làm việc không thể ký số thì hãy khẩn thiết niệm suông, đến khi xong việc lại nhiếp tâm ký số trở lại. Vọng niệm chợt đến chợt đi như sóng sau xô sóng trước không có ngừng nghỉ, nếu chuyên chú nhiếp tâm niệm Phật thì cảnh giới vọng niệm không còn. Đại Thế Chí Bồ Tát nói, “Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế, đắc tam ma địa, tư vi đệ nhất” (Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, đắc Tam Ma Địa, ấy là bậc nhất).

Người lợi căn thì chẳng cần phải nói, kẻ độn căn như chúng ta nếu bỏ qua pháp “Thập niệm ký số” này, muốn “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” thật quá khó, quá khó!

Phải nên biết, pháp nhiếp tâm niệm Phật này tuy cạn mà sâu, tuy nhỏ mà lớn, là pháp chẳng thể nghĩ bàn. Phải chí thành tin tưởng lời Phật dạy, đừng vì sự hiểu biết chưa đến nơi đến chốn [của mình] mà sanh nghi hoặc, khiến thiện căn nhiều đời kiếp do đây mà bị mất, tự thân chẳng thể có được lợi ích cứu cánh, thật đáng buồn thay!

Lần chuỗi niệm Phật chỉ thích hợp trong lúc đi đứng. Khi tịnh tọa dưỡng thần, [nếu lần chuỗi] do tay động nên thần chẳng an, lâu ngày sanh bệnh. Pháp “Thập niệm ký số” này đi, đứng, nằm, ngồi đều thích hợp. Lúc nằm chỉ nên niệm thầm, không được niệm ra tiếng. Nếu niệm ra tiếng, một là bất kính, hai là tổn khí, nhất định phải nhớ kỹ!”]

Hành trì pháp môn niệm Phật có xướng Phật hiệu và niệm Phật hiệu, trong niệm Phật hiệu lại có tán tâm niệm, chuyên tâm niệm, nhất tâm niệm và vô tâm niệm. Mới bắt đầu niệm Phật phải từ tầng thứ nhất là xướng Phật hiệu, không thể vừa mới bắt đầu đã nói mình là vô tâm niệm rồi, đó là đang khởi vọng tưởng chứ chẳng phải là vô tâm niệm. Vì thế niệm Phật tu hành thì không nên theo đuổi những cái viển vông, không thiết thực, lúc niệm Phật ra tiếng thì nhất định phải niệm lớn tiếng. Mới bắt đầu niệm Phật phải từ xướng Phật hiệu, sau đó mới tiến đến tán tâm niệm Phật, thêm một bước nữa là chuyên tâm niệm Phật, rồi mới nhập vào nhất tâm niệm Phật và cuối cùng là vô tâm niệm Phật, đó là quy luật tự nhiên. Phải nổ lực tinh tấn mới có thể từ xướng Phật hiệu tiến đến vô tâm niệm.

Nếu chỉ tham gia Phật thất tinh tấn có một lần mà đạt đến trình độ vô tâm niệm, hầu như không có khả năng này, chí ít cũng phải từ chuyên tâm đến nhất tâm, mới không cô phụ bi nguyện của đại chúng tham gia Phật thất.

  1. Bái Phật (lạy Phật).

Trong Phật thất tinh tấn ngoại trừ nhiễu Phật, niệm Phật còn có lạy Phật. Lạy Phật thì nghe âm thanh Phật hiệu từ máy niệm Phật, tâm nương theo, không nên niệm lớn tiếng. Phải chú ý đến từng động tác sao cho trang nghiêm, chỉnh tề, có thể làm cho thân mình hòa nhập với đại chúng, được vậy mới có cảm giác thư thái, tự tại.

Lạy Phật theo nguyên tắc “Ngũ thể đầu địa” có nghĩa là năm vóc gieo sát đất, cách lạy này còn gọi là “Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ”.

Ý nghĩa lạy Phật là dùng tâm cung kính để biểu đạt sự tôn kính và cảm ơn đối với Phật. Dùng tâm sám hối thừa nhận trong quá khứ cho đến ngày nay mình đã tạo vô lượng vô biên ác nghiệp, nay [đối trước Phật] cầu sám hối nghiệp chướng. Không thể vì có tâm mong cầu mà lạy Phật, nếu có tâm mong cầu mà lạy Phật thì rất dễ thoái tâm, không phải hạnh Bồ Tát, nhưng lúc có việc xảy ra cũng có thể cầu, khi cầu có thể chuyên nhất.

Động tác quỳ xuống: Trước làm động tác chắp tay, sau đó cúi người, khom lưng, tay phải chậm rãi đặt giữa tọa cụ, tay trái vẫn để ngang ngực, sau đó hai đầu gối quỳ xuống tọa cụ, tay trái đặt phía trước tay phải, tay phải đưa lên, hai tay bằng nhau. Đầu đặt phía dưới hai tay, hai tay nắm lại chuyển lòng bàn tay lên trên và xòe hai bàn tay như cánh hoa sen từ từ nở. Lúc này lưng phải bằng, mông đặt trên gót chân, không được nhấc mông lên cao rất khó coi, hai mũi chân xuôi về phía sau.

Động tác đứng lên: Hai tay nắm lại chuyển úp lòng bàn tay xuống tọa cụ, nhấc đầu khỏi tọa cụ, đưa tay phải về đặt ở phía trước đầu gối phải, tay trái đưa lên trước ngực, tay phải dùng lực đưa cơ thể đứng lên, khôi phục tư thế đứng, hai chắp tay lại.

Nghi Thức Cộng Tu

Thời Hương thứ nhất (2 tiếng, từ 8h30 – 10h30)

  1. Trống Hội Chúng.
  2. Tán Liên Trì.
  3. Tụng Kinh A-Di-Đà.
  1. Chú Vãng Sanh.
  2. Kệ Tán Phật “A-Di-Đà Phật thân kim sắc”.
  3. Kinh hành niệm Phật (20 phút), trở về vị trí (5 ph).
  4. Niệm Phật với địa chung (20 phút).
  5. Tĩnh Tọa (5 phút).
  6. Tán “Tây Phương Cực Lạc …” niệm Lục tự.
  7. Niệm Phật với địa chung (20 phút).
  8. Kệ Hồi Hướng “Nguyện Sanh Tây Phương”.
  9. Buông Thư (5 phút).
  10. Lạy Phật (12 lạy theo điệu tứ âm của máy).

Thời Hương thứ nhì. (1 tiếng 30 phút từ 10h30 – 12h00)

  1. Tán “Tây Phương Cực Lạc …”.
  2. Kinh hành niệm Phật (20 phút), trở về vị trí (5 ph)
  3. Niệm Phật với địa chung (20 phút).
  4. Tịnh Tọa (5 phút).
  5. Tán “Tây Phương Cực Lạc …” niệm Phật Lục tự.
  6. Niệm Phật với địa chung (20 phút).
  7. Kệ Hồi Hướng “Nguyện Sanh Tây Phương …”.
  8. Buông Thư (5 phút).
  9. Lạy Phật (lạy 12 lạy theo điệu tứ âm của máy).

Thời Hương thứ ba (1 tiếng 30 phút, từ 12h00 – 13h30. Nếu nghỉ giải lao sau thời cộng tu trước thì phải lễ Phật ba lạy rồi mới tán Tây Phương, nếu không nghỉ giải lao thì tán Tây Phương).

  1. Tán “Tây Phương Cực Lạc …”.
  2. Kinh hành niệm Phật (20 phút), trở về vị trí (5 ph).
  3. Niệm Phật với địa chung (20 phút).
  4. Tĩnh Tọa (5 phút).
  5. Tán “Tây Phương Cực Lạc …” niệm Phật Lục tự.
  6. Niệm Phật với địa chung (20 phút).
  7. Kệ Hồi Hướng “Nguyện Sanh Tây Phương”.
  8. Buông Thư (5 phút).
  9. Lạy Phật (12 lạy theo điệu tứ âm của máy).

Thời Hương thứ tư. (1 tiếng 30 phút từ 13h30 – 15h00)

  1. Tán “Tây Phương Cực Lạc …”.
  2. Kinh hành niệm Phật (20 phút), trở về vị trí (5 ph).
  3. Niệm Phật với địa chung (20 phút).
  4. Tĩnh Tọa (5 phút).
  5. Tán “Tây Phương Cực Lạc …” niệm Phật Lục tự.
  6. Niệm Phật với địa chung (20 phút).
  7. Kệ Hồi Hướng “Nguyện Sanh Tây Phương”.
  8. Buông Thư (5 phút).
  9. Lạy Phật (12 lạy theo điệu tứ âm của máy).

Thời Hương thứ năm (1 tiếng 45 phút từ 15h00 – 16h45)

  1. Tán “Tây Phương Cực Lạc …”.
  1. Kinh hành niệm Phật (20 phút), trở về vị trí (5 ph).
  2. Niệm Phật với địa chung (20 phút).
  3. Tịnh Tọa (5 phút).
  4. Niệm Phật với địa chung (20 phút).
  5. Niệm Danh Hiệu Bồ Tát.
  6. Buông thư (5 phút).

(Nếu dư thời gian thì lạy Phật 5-10 phút)

  1. Hồi Hướng cuối ngày (15-20 phút).
    1. Từ Vân Sám Chủ Tịnh Độ Văn.
    2. Hồi Hướng Kệ (Nguyện Dĩ Thử Công Đức).
    3. Phổ Hiền Bồ Tát Cảnh Chúng Kệ.
    4. Tam Quy Y.
    5. Niệm Phật xuất Ban.

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *