THỰC HÀNH HỘ NIỆM (Bài số 4)

Print Friendly, PDF & Email

THỰC HÀNH HỘ NIỆM

(Bài số 4)

A-DI-ĐÀ PHẬT!

Kính thưa tất cả các quý đồng tu!

(khi xuống dòng thì chữ đầu tiên nên thục vô và đều nhau từ trên xuống đến hết bài, ngoại trừ trường hợp đặc biệt để tránh nhàm mắt, Huynh thấy sao? Muội bắt chước bài của Sư Phụ, thấy quen rồi… hì hì…)

Trên màn hình thì chúng ta nhìn thấy có một ông cụ. Nhật Thuyết xin giới thiệu đây là ông cụ Trường và là ông nội của cháu Mai Phương, mà cháu vẫn thỉnh thoảng về đây cộng tu. Hôm nay xin tất cả các đạo tràng các nơi một tràng pháo tay tán thán cụ Trường…

Xin giới thiệu với tất cả quý đồng tu, cụ năm nay trên 80 tuổi, cụ là một người rất hiền lành và rất đức độ… của một nhà giáo thời xưa. Hiện giờ cụ đã về hưu. Đặc biệt cụ rất có phước, cái phước rất lớn là cụ có anh con trai trưởng là một người rất có hiếu. Thực sự ở thế gian bây giờ để tìm được một người con có hiếu như anh này là rất hiếm. Bởi vì bây giờ tìm thấy ở thế gian có được rất ít người biết được pháp Đại báo hiếu cho cha mẹ mình.

Hiện tại ông cụ đang có bệnh… nặng, cho nên tuần trước cụ không tham dự được với chúng ta vì cụ hơi bị mệt, tuần này ông cụ cũng cố gắng lắm… ở Việt Nam giờ cũng gần 9 giờ tối rồi, nhưng ông cũng rất cố gắng lên trên này cùng với chúng ta để nghe một số trao đổi của với chúng ta.

– Dạ, Con xin thưa với cụ Trường:, Con không dám gọi là chỉ dẫn hay giảng giải mà chúng con ở đây chỉ với một tư cách là trao đổi cùng với nhau.

– Con cũng được xin phép để trao đổi với tất cả các quý vị đồng tu.

– Và con cũng được xin phép để trao đổi với cụ.

Một số những việc trong vấn đề tu hành.

Hôm nay chúng con có buổi thảo luận với nhau, trao đổi các công việc về tu tập và các công việc về hộ niêm.

Kính thưa quý đồng tu, như mấy buổi trước chúng ta cũng đã có những trao đổi chia sẽ với nhau:

Thứ nhất là vấn đề khai thị.

– Khai thị cho gia đìịnh người được hộ niệm.

– Khai thị cho người mình hộ niệm.

Thứ hai là chúng ta trao đổi về vấn đề oan gia trái chủ.

– Oan gia trái chủ là như thế nào?

– Chúng ta nhận biết oan gia trái chủ ra làm sao?

  • Chúng ta có những quan điểm gì đối với các chư vị oan gia trái chủ?

  • Và những cách hóa giải “duyên không lành” với các chư vị oan gia trái chủ.

Mấy hôm vừa rồi Nhật Thuyết cũng đã giải thích các vấn đề:

– Thế nào là hộ niệm?

– Cách khai thị cho gia đình và cho người được hộ niệm.

Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục về vấn đề «khai thị cho gia đình, khai thị cho người được hộ niệm».

Con xin thưa với ông là vì mấy buổi ông cũng chưa được nghe cho nên con chỉ xin được nói sơ lược qua một chút về…

Thế nào là hộ niệm?

Hộ niệm có nghĩa là khuyến khích nhau để xây dựng cho người được hộ niệm

– Có tín tâm với Đức Phật A-Di-Đà.

  • Tin tưởng là có về cõi Tây-Phương Cực-Lạc.

  • Tin tưởng mình cũng sẽ được vãng sinh về TâyPhương CựcLạc.

– Và tha thiết muốn xin về cõi Tây-Phương Cực-Lạc.

Người đó khởi một tâm niệm Phật A-Di-Đà cầu vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc thì đó là chúng ta trợ niệm.

Các đồng tu chúng ta ở đây hội tụ từ nhiều nơi, từ các cháu nhỏ, (ở đây cũng có các cháu nhỏ lắm tầm tám, chín tuổi các cháu tới đây cùng cộng tu. Hiện đang ngồi đây, đếm cũng tầm chục cháu nhỏ lứa tuổi mười lăm, mười sáu trở lại. Còn mười tám tuổi trở lên là lớn rồi). Các cháu nhỏ như vậy cho đến những người sáu mươi mấy tuổi cũng đến cộng tu. Và như bà má bên Thụy Sĩ là cũng trên 70 tuổi, bà má cũng ngồi cộng tu cùng.

Ở đây chúng ta từ người già cho tới người trẻ hỗ trợ nhau phát khởi cái Tín tâm và cái Nguyện rồi cùng nhau niệm Phật thì đó là chúng ta đang hộ niệm cho nhau!

Có nhiều người có quan điểm hộ niệm có nghĩa là… lúc người bị bệnh chúng tôi đi đến hộ niệm cho người bị bệnh. Lúc đó chúng ta đang làm công việc gọi là hộ niệm, thế nhưng mà kể cả những lúc bình thường như thế này, chúng ta cùng nhau cộng tu niệm Phật thì đây gọi là hộ niệm cho nhau, chứ không phải là chỉ lúc người bị bệnh nặng sắtp ra đi, nằm không dậy được rồi lúc đó mới gọi là hộ niệm.

Hôm vừa rồi con cũng có gọi điện về cho anh chị Chinh – Mai, thì cũng nắm được và cũng nắm được một số tình hình. Phải nói là… ông có một cái phước vô cùng lớn! Phước đức của ông tích luỹũy từ nhiều đời nhiều kiếp rồi. Hôm con gọi điện về để hỏi thăm tình hình sức khỏe của ông, nhưng hôm đó ông xuống chơi ở nhà của cô con gái. Quả là ông có nhiều phước đức quá! Ông được hưởng pPhước đức của tổ tiên và của nhiều đời nhiều kiếp ông đã tích lũy mà có được… Vì hiện giờ ông có những người con hiếu thảo, không những chỉ báo hiếu cho ông như theo pháp thế gian mà còn muốn đại báo hiếu nữa. Như nNgài Mục-Kiền-Liên đã tìm cách cứu mẹ siêu thoát khỏi chỗ khổ đau đến chỗ sung sướng và Ngài được đĐức Phật phong là “Đại Hiếu“. Gia đình anh con trai trưởng… từ chồng, vợ đến hai con gái, Mai Phương ở đây cũng rất siêng năng để niệm Phật… Ai ai cũng cầu mong và ủng hộ ông để sau khi mà ông xả bỏ báo thân này, ông cũng được về với đĐức Phật A-Di-Đà, chỗ cực kỳ sung sướng! Mà về được TâyPhương CựcLạc là phải có nhiều phước đức lắm, chỉ một đời này vun trchồng không đủ đâu. Cho nên con mới hết lòng tán thán ông.

Nhiều người không hiểu được…

– Sau khi người ta tắt hơi thì mình sẽ đi về đâu?

– Lại còn nhiều người nghĩ rằng sau khi chết là hết, là không còn gì nữa.

Nhưng nếu người hiểu biết Phật Pháp đều biết…

– Sau khi chết thế giới còn rộng hơn là bây giờ nữa.

Bởi bây giờ chúng ta chỉ mới ở cCảnh giới của cõi con Người, nhưng sau khi đó ngoài ra thì còn có nhiều cCảnh giới…

– Sâu nhất là ở dưới Địa ngục.

– Xong rồi đến Ngãạ quỷ.

– Rồi vào đến loài Súc sinh tức là các con vật.

Đấy gọi là Tam ác đạo.

Qua Tam ác đạo thì tới Tam thiện đạo là:

  • Cõi Người

  • A Tu La

  • Trời

Như Nho giáo các cụ vẫn hay dạy tu Thập thiện để được lên cõi Người, cõi Trời. Đó gọi là tu Nhân-Thiên, về Nho giáo thì ông đặc biệt rất là hiểu biết.

Về Nho giáo con chỉ dám sơ sơ qua, tức là bên Nho giáo cũng nhìn thấy rằng người ta tu tập, tu nhân tích đức là để sau này sẽ lên làm người hoặc là được lên Trời hoặc có những người họ tu để sau này họ làm Tiên, Tiên thì cũng vẫn ở trên Trời.

Còn bên Thiên Chúa Giáo thì họ cũng tu tập, họ tu tập để họ không vào trong Địa ngục, bởi quan điểm của Thiên Chúa Giáo là: Nếu như không được đến với Chúa thì sẽ đọa vào Địa ngục tức họ công nhận rằng có Địa ngục và có Thiên đàng (nơi sung sướng). Theo Hoà Thượng Tịnh Không có giảng thì Thiên Đàng ở khoảng tầng trời thứ 20 hoặc 21. tức là Thiên Đàng thuộc về cõi Trời.

Các Tôn giáo khác họ thấy rằng, nếu như tốt thì sẽ lên được cõi Trời. Nhưng họ không biết phía trên của cõi Trời còn có gì?

Theo Đạo Phật phía trên của Trời lại còn có thêm bốn cảnh giới nữa. Đó là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật nữa. Bốn cảnh giới này chỉ có Đạo Phật mới thấy, còn các Đạo khác chưa thấy.

Theo kinh điển thì: nhiệm vụ lớn nhất của đĐức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni khi Ngài thị hiện ra ở cõi đời là để chỉ ra cho chúng sinh biết… “Tất cả các chúng sinh đều có Phật tính”, (Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh). Ngài cũng nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành. Như vậy tất cả cChúng sanh đều có thể thành Phật không loại trừ một ai.

Đức Phật cũng nói cho chúng ta biết được con đường nào chúng ta có thể thành Phật. Đó chính là những phương pháp tu tập.

Các phương pháp tu tập mà đức Phật chỉ ra, đó là các Pháp môn. Có rất nhiều Pháp môn. Nhưng trong kinh ĐạiTập đĐức Phật cũng nói là ở đời Mạt Pháp, (tức là thời kỳ hiện nay) thì chỉ có pháp môn Niệm Phật là dễ thành tựu, “Mạt pháp duy chỉ Niệm Phật thành tựu” tức là niệm A-Di-Đà Phật thì sẽ thành tựu. Việc này có nghĩa là người chúng ta chỉ có nhờ vào câu A-Di-Đà Phật mà mình sẽ được thành Phật.

Chúng ta vốn là Phật nhưng bây giờ quên mất, rơi trong lục đạo luân hồi trầm luân bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp và bây giờ nếu như chúng ta…

– Bbiết niệm câu A-Di-Đà Phật.

– Bbiết tin tưởng.

– Vvà mình tha thiết muốn đi về Tây-Phương Cực-Lạc.

Thì mình cũng sẽ được thành Phật.

Chúng ta đang là phàm phu tục tử, không có một cái gì khác lạ. Thế nhưng vào thời khắc chúng ta xả bỏ báo thân mà giữ được câu A-DI-ĐÀ PHẬT thì chúng ta chắc chắn sẽ được đĐức Phật A-Di-ĐÀà đón về Tây-Phương Cực-Lạc. Về được Tây-Phương Cực-Lạc có nghĩa là chúng ta đã thành Bồ-Tát Bất-Thối (anh ạ, tìm hiểu xem dùng chứ «thoái » hay chữ « thối » chính xác theo kinh thì «Bất thối bồ tát vi bạn lữ». Nguyên bài từ trên xuống dưới nên dùng giống nhau anh nhé, ở bài nào đó em đã thấy anh dùng là thoái đến đây là thối, xin thống nhất. Cảm ơn anh) tức là ngang tầm với các vị Bồ-Tát mà chúng ta vẫn thường hay lễ lạy ở đây.

Sở dĩ làm sao mà lại có trường hợp như thế? Thì con cũng xin thưa với ông thế này:

Con lấy ví dụ:

Ngày xưa có những vị học trò nghèo. Họ sống ở làng quê, họ đang học cho nên vẫn chỉ là một cậu học trò nghèo., chưa có danh phận gì. Vì thế nên còn dưới cấp của ông trưởng thôn, mọi việc đều phải chấp hành theo quy định của ông trưởng thôn này. Cho tới đối với ông trưởng xã, trưởng huyện.v.v.v... cũng như vậy. Những người xung quanh họ chưa coi trọng vì cậu ta đang là người rất bình thường.

Thế nhưng một hôm cậu này đi lên trên Kinh thành để thi, vì cậu ấy chịu khó học và chuẩn bị tốt nên cậu ấy làm được bài và đỗ Trạng nguyên. Khi cậu đỗ được thành Trạng nguyên rồi thì chỉ trong một thời gian rất ngắn… từ một cậu học trò nghèo mà ai cũng có thể bắt nạt được trở thành một vị Trạng nguyên.

Mà một vị Trạng nguyên rồi thì lúc đó đến ông quan tỉnh, ông quan huyện cũng đều phải rất nể cái Vị này. Khi ông Trạng nguyên này mà quay trở về vinh quy bái tổ quay trở về thì tất cả các quan trên dọc đường đi đều phải ra để nghinh đón và cung phụng cái vị tân Trạng nguyên này. Trong khi đó lúc trước là một cậu học trò nghèo, lúc đó có vào ăn ở tiệm mà thiếu tiền người ta cũng không cho thiếu nữa chứ chưa nói đến chuyện người ta phải cung phụng.

Thì bây giờ cũng vậy, chúng ta đang là phàm phu không có ai để ý đến ta cả và chúng ta bây giờ chỉ có bằng cách âm thầm học… tức là niệm Phật và phát một cái tín tâm mình muốn sinh về Tây-Phương Cực-Lạc. Để đến lúc nào chúng ta chuẩn bị xả bỏ cái báo thân này… (giờ phút lâm chtrung) chính là lúc chúng ta thi đó. Chúng ta thi, nhờ bây giờ mình có niệm Phật nên câu A-DI-ĐÀ PHẬT đã đi vào trong tiềm thức của mình, trong đạo Phật gọi là đi vào trong Ai Lại Gia Thức. Vào được trong tiềm thức thì đến giờ phút lâm chung khi nghe được có những người, ví dụ có những người con người cháu mình nói: “Bố ơi bố niệm Phật A-DI-ĐÀ nhé, ông ơi ông niệm Phật A-Di-ĐÀ để về Tây Phương Cực Lạc nhé… A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật…” lúc đó mình nhớ được ra… “à ta phải niệm A-DI-ĐÀ PHẬT để về Tây-Phương Cực-Lạc và niệm theo“… thì được như vậy là mình thi thành công. Lúc đó mình trở thành vị Bất-Thối Bồ-Tát trên Tây-Phương Cực-Lạc để sau này trở thành Phật.

Trong kinh A-DI-ĐÀ đĐức Phật nói là: “Xá Lợi Phất bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên đắc sanh bỉ quốc”. chúng ta hiểu ý câu này là:, người nào mà được sinh về Tây-Phương Cực-Lạc là người đấy đã có nhiều thiện căn, phước đức lắm. Chính vì vậy chúng ta mới nói người nào khi xả bỏ báo thân, được vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc là người đó có phước đức rất là nhiều, như đĐức Phật đã nói là, người mà có ít phước đức không sinh được về đấy đâu.

Tại sao lúc ban đầu con giới thiệu ông là người có phước đức rất là nhiều bởi vì ông có được những người con, những người cháu muốn đền đáp, báo hiếu cho ông để ông về TâyPhương CựcLạc, cứu lấy huệ mạng của mình… những người con, người cháu như thế tìm ở thế gian bây giờ rất là ít ông ạ. Cho nên chúng con vô cùng thán phục cái thiện căn, phước đức của ông. Những thiện căn phước đức đó chắc hẳn phải từ nhiều đời nhiều kiếp tích tụ được… cộng thêm với cuộc sống của đời này… ông ăn hiền ở lành, ông làm một thầy giáo chân chính, cho nên đã mang lại cho đời này bao nhiêu những phước đức.

Chính vì pPhước đức này nó tích tụ lại mà đến lúc ông lớn tuổi, con cháu ông mới biết được câu A-DI-ĐÀ PHẬT, biết được con đường tu về TâyPhương CựcLạc, để giúp cha mẹ, cho các anh chị em trong nhà và giúp đỡ cho nhau để khi xả bỏ báo thân này được về cảnh giới tốt nhất đó là cảnh giới của Phật, Bồ Tát.

Được biết ông niệm Phật như thế này là con rất mừng. Hôm vừa rồi con thấy anh Chinh cũng kể là ông dậy sớm cùng niệm Phật. Ông niệm Phật xong ông thấy sảng khoái, và ông đi dạo ở bên ngoài. Đấy là điều rất đúng. Bây giờ ông cố gắng niệm A-DI-ĐÀ Phật, những lúc mình rảnh rỗi mình niệm A-DI-ĐÀ Phật, bởi vì khi mình niệm được càng nhiều thì tự dưng trong A Lại Gia Thức (tức là trong cái tiềm thức của mình), nó tích lũy dần được rất là nhiều chủng tử ADiĐà Phật, mình mình giữ đó để dành đến lúc nào mà mình xả bỏ báo thân mình sẽ dùng đến. (giống như cậu học sinh học bài để đợi tới lúc đi thi đấy).

Ông Niệm Phật là rất tốt nhưng còn phải phát nguyện tha thiết nữa ông nhé. Mình nguyện là: Xin Đức Phật A Di Đà cho con về Tây Phương Cực Lạc. Chỉ ngắn gọn thế thôi nhưng phải tha thiết từ đáy lòng thì mới được.

Ông là người lớn tuổi cho nên ông cũng chứng kiến biết bao nhiêu người đã ra đi, những người đã ra đi đó phần lớn sau vài giờ là thân thể cứng nhắc, hình tướng sẽ xấu đi chứ nó không còn được tốt đẹp nữa.

Nhưng người nào được vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc hoặc được lên cõi Trời hoặc trở lại làm Người, gọi là từ tam Thiện đạo trở lên thì hình dáng rất là đẹp. Đặc biệt về được Tây-Phương Cực-Lạc là để lại cho con cháu sau này vô cùng nhiều phước đức.

Ở cõi này chúng ta có ăn, có mặc, gọi là mặc đẹp hơn một chút so với người ta, mình ăn ngon hơn một chút so với người ta, mình tưởng đấy là mình có phước. Đó cũng là cái phước, nhưng chỉ là cái phước trong luân hồi sinh tử, nhưng cái phước rốt ráo nhất, tức là sau khi mình xả bỏ cái thân này rồi mình được đến chỗ tốt nhất, được chỗ sung sướng nhất thì lúc đó đồ ăn, thức uống tất cả các vật dụng của mình, mình coi nó rất là thường và mình không còn bị khổ sở vì phải lệ thuộc vào những thứ đó nữa.

Cũng giống như ông vua đấy, mình thì thấy một đồng vàng coi là giá trị lắm, cất cất, giấu giấu, như ông vua có khi ông thấy vàng rdơi xuống đất, ông dẫm lên đi qua mà không có vấn đề gì. Bởi cái ghế vua ngồi cũng bằng vàng, đối với ông ấy, vàng không còn là quan trọng như người dân thường mình nữa. Thế cho nên ông ấy không cảm thấy quí như mình. Bây giờ ở tại cõi này tất cả vàng bạc châu báu mình cảm thấy là quý nhưng thực chất về tới Tây-Phương Cực-Lạc mình thấy nó rất là bình thường, không cần phải lo toan gì nữa. Cho nên lúc ấy mình không còn để ý đến những vật chất nhiều nữa, mà lúc đó chúng ta chỉ cần thụ hưởng.

Cũng giống như người đang sống ở Việt Nam và người được sang bên nước ngoài, tức là sang bên Tiệp, sang bên Đức, sang bên Thụy Sĩ, giữa hai cái cảnh đó nó khác nhau rất là nhiều. Chúng ta vẫn là nhân dân nhưng mà nhân dân ở Việt Nam khác với nhân dân ở bên châu âu. Mình cũng nôm na như vậy để thấy được sự tương quan giữa mình đang ở đây và với mình ở trên Tây-Phương Cực-Lạc. Đương nhiên sự khác biệt giữa nơi đây và Tây-Phương Cực-Lạc không có gì có thể so sánh được!

Kính thưa tất cả các quí đồng tu! Cũng là có một chút thời gian, Nhật Thuyết xin phép để nói sơ qua về các vấn đề đó với ông cụ Trường. Rất vui mừng là ông đang tuy rất mệt mà ông cũng lên đây ông nghe, nghe những việc trao đổi giữa chúng ta với nhau. Bây giờ chúng ta dành một chút thời gian tiếp tục trao đổi về việc trợ niệm. Hôm nay chúng ta sẽ thực hành một chút… “chị Hiền sẽ đóng vai một người đi trợ niệm và Nhật Thuyết sẽ tiếp tục đóng vai một cụ già để nghe lời khai thị và sau khi nghe lời khai thị xong, chúng ta sẽ rút ra những kinh nghiệm”…

Đây là chúng ta đang trao đổi với nhau ông ạ, tức là đang trao đổi để thực tập với nhau. Bây giờ tiếp tục đề tài hôm nay chúng ta lại thực tập. Nhật Thuyết sẽ đóng vai cụ già để nghe những lời khai thị. Hôm nay sẽ sang đến chủ đề là sẽ khai thị cho một người đã có tu tập một chút, đã có tu tập thế nhưng vẫn còn một số điểm chưa được thông lắm. Hôm nay tí nữa “cụ già” sẽ hỏi một số câu cho với ban hộ niệm, ban hộ niệm phải giải thích cho những quan nghi điểm đó. Bây giờ xin mời chị Hiền có đôi lời với người được hộ niệm tức là Nhật Thuyết đang là một cụ để được hộ niệm. Mời chị Hiền ạ.

Bây giờ chúng ta cùng nghe để thực tập, để xong rồi một lát nữa, ông sẽ thấy có cái gì hoặc bên chỗ các đạo tràng thấy có cái gì bổ sung. Đây là chúng ta đang trao đổi mà, chúng ta bổ sung cho nhau để làm sao xây dựng được, chuẩn bị một hành trang rất là vững vàng rất là chắc chắn. Để khi chúng ta, bất cứ một lúc nào xả bỏ báo thân, chúng ta đều được vững vàng vãng sanh.

Chị Hiền nói: “A-DI-ĐÀ PHẬT, xin kính chào các quí đồng tu cùng với các Đạo tràng tu tập với Đạo tràng Liên Hoa, cư sĩ Tâm Nhật Thuyết đã phân công tôi làm trưởng ban hộ niệm, hôm nay thì tôi cũng cứ mạnh dạn tôi làm, có gì không đúng thì xin các chư vị hoan hỉ…”

– Dạ, A-DI-ĐÀ PHẬT! Con chào bà ạ. Hôm nay ban hộ niệm chúng con đến đây là để xin phép bà và gia đình để được cùng niệm Phật, cùng dìu dắt nhau về Tây-Phương Cực-Lạc. Xin bà là… tất cả về cái tư tưởng cũng như là những cái ý nghĩ gì của bà… bà còn có những vướng mắc gì nữa không ạ? Thì để chúng con được biết, có gì thì bà con mình cùng nhau giải tỏa.

Bà cụ được hộ niệm (do cư sĩ Tâm Nhật Thuyết đóng vai) nói:

– Dạ ! vâng, cám ơn tất cả các chị, các bạn. Tôi chỉ có một chút cần hỏi. Tức là cũng nghe thấy mọi người nói chuyện về hộ niệm, đến đây giúp hộ niệm cho tôi, thế nhưng mà cho tôi xin hỏi là các điều kiện như thế nào để được hộ niệm? Và trong những hoàn cảnh nào thì có thể hộ niệm?

Trưởng ban hộ niệm (do chị Hiền đóng vai):

– Thưa bà, những điều kiện để ban hộ niệm chúng con đến trợ niệm là trước tiên chúng con có những điều kiện mà sau đây, chúng con sẽ đưa cho gia đình cũng như bà tham khảo mười lăm điều kiện trong cái nội quy của chúng con. Thế nhưng trong những cái điều kiện đấy thì điều kiện kiên quyết là Tín-Nguyện-Hạnh phải có. Vậy con muốn hỏi thưa bà là bà đã có được ba cái điều kiện đó chưa?

Bà cụ được hộ niệm:

Tín thì có tin rồi, Nguyện thì có nguyện rồi và tôi cũng niệm Phật. Thế nhưng mà trong các điều kiện thì tôi thấy có một cái điều kiện như thế này tôi vẫn còn phân vân. Trong điều kiện đó nói rằng khi mà tôi qua đời thì con cháu không được khóc!

Điểm thứ nhất: Không được khóc này là không được khóc vào lúc nào? Điểm thứ hai là con cháu tất cả không được khóc lóc là tại sao không khóc lóc? Và có được khóc lúc tang lễ không hay không?

Một việc nữa là phải làm cơm chay hết, cái điểm đó tôi cũng có một chút lo ngại. Điểm nữa là không làm tang lễ tổ chức như bình thường, như vậy tôi có một chút thắc mắc… thắc mắc như thế này: vì phong tục tập quán của Việt nam đặc biệt là các vùng quê, khi có người chết thì phải có cỗ để làng xóm tới viếng và ăn cỗ, chỉ chừ những người phạm tội, hoặc ác quá thì mới không có người tới phúng viếng. Mà đã có đám thì phải có ăn, mà ăn chay thì đại đa số không quen, ăn không được. Bây giờ không tổ chức đám tang cho đàng hoàng thì rất khó khăn, lời ra tiếng vào cho con cháu sau này thì chúng tôi cũng không an tâm. Vậy có cách nào giải quyết được cả đôi đường không? Đđể được trọn đạo, đẹp đời?.

Trưởng ban hộ niệm:

– Dạ! A Di Đà Phật! Thưa bà, là thật ra mà nói chúng ta cũng chỉ là những con người bình thường cho nên yêu thương là chuyện tất yếu, nhưng mà không khóc bởi vì làm sao? Cái thứ nhất là bà con mình cùng nhau niệm Phật để vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc, vậy thì chúng ta đi về một cảnh giới hoàn toàn tốt đẹp, hoàn toàn tươi sáng cho chúng ta. Vậy thì có gì để mà phải khóc, chúng mình được về cái nơi sung sướng, muốn gì có nấy… chỉ là ý tưởng, chúng mình nghĩ ra cái gì… muốn là có rồi và mình về trên đấy con cái được hưởng phước đức bao nhiêu đời sau nữa. Vậy thì có gì để mà khóc. Cho nên cái đấy nếu là cái thực sự chúng ta Tín, Nguyện, Hạnh đầy đủ và được vãng sanh về Tây-Phương Cực-Lạc thì chúng con sẽ rất vui mừng, sung sướng trong cái lúc bà bỏ cái báo thân chứ không có gì phải khóc. Nhưng trong thâm tâm… nhiều năm sống với nhau bà và con cháu của bà đều yêu thương lẫn nhau thì chúng con cũng rất đau xót khi không nhìn thấy được bà hàng ngày, từng ngày từng giờ không được nhìn thấy thì khi đấy có thể trong lòng chúng con khóc vì không thể nhìn thấy bà, nhưng trong tâm chúng con lại rất vui mừng vì bà mình được về một cảnh giới tươi sáng. Từ đấy bà mình sẽ quay lại độ cho những con cháu trong nhà vì thế chúng con rất là vui mừng và nếu như chúng con có khóc thì sau khi bà xả bỏ báo thân và hộ niệm cho bà, ca hộ niệm thành công thì chúng con sẽ khóc! Khóc không phải khóc ở lúc bà đang nằm đấy. Bởi vì nếu bà đang nằm đấy mà giọt nước mắt của chúng con rơi xuống người bà là nó không phải giọt nước mắt Cam Lồ như ngài Quán-Âm cho xuống, mà là giọt lửa đốt thiêu cháy, rất nóng bỏng cho nên vì thế chúng con không được phép khóc. Bởi vì khóc có nghĩa là làm cho bà bị thiêu đốt. Làm cho bà luyến ái, bà không ra đi được cho nên chúng con không được phép khóc, chứ không phải chúng con không yêu thương bà. Nếu chẳng may khi đấy chúng con không cầm được nước mắt thì chúng con sẽ lặng lẽ ra ngoài khóc chứ không được khóc trước mặt bà bởi làm như thế là cản trở cái sự ra đi, sự xả bỏ báo thân của bà. A DI ĐÀ PHẬT con chào bà”.

Cư sĩ Tâm Nhật Thuyết:

A-DI-ĐÀ PHẬT đây là một câu hỏi của tôi và được chị Hiền trả lời cho chúng ta. Đây là Nhật Thuyết đang đóng vai để làm bà cụ, để mà hỏi bởi thực ra trong lúc chúng ta đi hộ niệm hoặc là gặp gỡ nhiều khi là có những sự thắc mắc như vậy. Có khi là thắc mắc đó ở trong lòng có những người không nói ra, thế nhưng mình phải nói chuyện nhiều lắm, lúc đó họ mới có thể tiết lộ cho mình là còn những điều thắc mắc, đều thắc mắc đầu tiên đó là về chuyện khóc.

Như chị Hiền đã trả lời thì Nhật Thuyết xin được bổ sung thêm một chút về chuyện khóc này. Như chúng ta cũng thấy, chị Hiền nói còn hơi run run, thế nhưng cũng rất là lưu loát rồi. Cố gắng trong lúc chúng ta nói chuyện với người bệnh thì nêmn cố gắng không căng thẳng và nghiêm nghị quá mà chúng ta nên vui vẻ. Ví dụ như: Khi chúng ta hỏi một người xong mà người đó có Tín hay nguyện hoặc trả lời đúng thì lúc đó chúng ta sẽ có khuyến tấn ngay lập tức là vỗ tay khen ngợi (làm như vậy khiến cho không khí sẽ thoải mái, vui vẻ).

Nhật Thuyết cũng xin bổ sung thêm về việc khóc này.

Trong giờ phút xả bỏ báo thân thì như trong Kinh, đức Phật cũng nói và các tôn giáo khác họ cũng đều có nói tới giờ phút quan trọng này. Rằng khi mà tắt hơi thở là lúc quyết định rất lớn tới việc người này sẽ đi về đâu? Cho nên lúc đó nếu mà con cháu khóc… thì tự dưng người này cảm thấy thương con, thương cháu mà khởi lên một cái tâm gọi là tâm luyến ái, tâm luyến ái thì dễ rơi vào cảnh giới súc sanh. Nếu như lúc đó mà có người khóc, thì người ra đi không nỡ lòng, không dứt khoát để đi về với ADiĐà Phật. Như vậy đáng lẽ có thể đi được vào cảnh giới tốt mà bỗng dưng lại bị rơi vào chỗ hoạn nạn, đó là rơi vào cCảnh giới Súc sanh.

Chúng ta cũng thấy rất là nhiều người, trong nhà có những con trâu, nhất là ở quê có những con trâu tự nhiên nó chỉ trung thành với một ông chủ này thôi, nó không chịu nghe theo người khác. Hoặc là trong nhà hay nuôi các con vật, con chó, con mèo… tự nhiên nó ở đâu nó vào… xong nó quấn quýt lấy một người thì coi chừng là có những người thân của chúng ta bị lạc vào cảnh giới đó đấy.

Chính vì vậy mà lúc đó chúng ta không được khóc, không khóc thời điểm đó cho tới lúc nào công việc đã xong xuôi, tức là đã được vãng sanh. Khi đã xong thì mới có thể được khóc, nhưng không khóc thê thảm hoặc gào thét mà chỉ nên nhgiỏ lệ. Khóc lúc đó là chúng ta đã quay trở lại với thế gian bình thường. Lúc đó trước mặt mọi người trước mặt tất cả các bà con, những người tới viếng, đã là con cái khi bố mẹ ra đi đều phải rơi những giọt lệ xuống, để cho thế gian họ nhìn thấy rằng con cái có “thương xót yêu không nỡ xa rời“ cha mẹ. Nhưng thực ra chúng ta nhgiỏ những giọot lệ mừng vui vì cha mẹ mình đã được giải thoát rồi.

Chúng ta đừng hiểu lầm, rất nhiều người đã bị hiểu lầm và đến bắt gia đình tuyệt đối từ đầu tới cuối là không được rơi một giọt nước mắt nào cả. Cái chuyện đó là cũng không đúng hẳn. Mà khi chúng ta ở trước mặt tất cả những người đến phúng viếng… đấy là lúc công việc hộ niệm đã xong rồi thì lúc đó có thể nhỏ giọt lệ xuống, mặc dù cái giọt lệ này ở trong thâm tâm chúng ta đây là vui mừng vì cha ta, vì mẹ ta đã được cứu thoát rồi, đã được đến chỗ sung sướng rồi, nhưng chúng ta vẫn nhỏ giọt lệ xuống để cho thế gian ở ngoài họ khỏi trách móc là con cái gì khi cha mẹ mất mà mắt cứ trơ trơ. Họ nói người này vô phước nên lúc chết con cháu không thương tiếc, rồi đàm tiếu bàn luận khiến nhiều cụ thấy thế mà sợ… mình được hộ niệm cũng sẽ bị như vậy.

Đấy là một điểm mà các cụ già sẽ hay quan tâm, mà nhiều khi vì cái việc đó mà trong đầu óc các cụ vẫn chưa được thông lắm. Tức các cụ nghĩ rằng: «Để sau này đến lúc mà mình có ra đi xong là hàng xóm, rồi là bà con người ta chê trách cho gia đình con cháu». Đấy là điểm không tốt mà chúng ta nên quan tâm để giải thích rõ cho các cụ.

Tóm lại là trong khi hộ niêm thì tuyệt đối không được khóc vì làm ảnh hưởng tới việc vãng sanh của người đó. Nhưng sau khi đã xong việc hộ niệm thì có thể khóc nhưng không làm ồn ào náo động tới người ra đi bởi vì lúc này tuy đã xong nhưng vì còn tập khí cũ nên cũng có thể làm động tâm người ra đi mà có trở ngại. Chúng ta phải cẩn thận. Chúng ta giải thích với gia đình rằng:, khóc đây là khóc để cho thế gian họ thấy, những giọt nước mắt đó để cho thế gian, hàng xóm, tất cả họ không có điểm gì mà phê phán. (hợp với đời). Nhưng trong thâm tâm đây là những giọt nước mắt sung sướng vì người thân mình đã được về nơi sung sướng rồi! (hợp với đạo)

Nhật Thuyết lấy ví dụ thế này: Thời gian ngày xưa còn chiến tranh phần lớn thanh niên lớn lên phải đi lính, những người phải đi lính, mà vào thời chiến tranh thì sẽ vất vả khổ sở và chưa biết sống chết ra sao nữa. Nếu tiễn người đó đi lính thì cha mẹ và anh em sẽ rơi nước mắt, rơi nước mắt là bởi vì thương cho cái người này sắp sửa phải gặp bao nhiêu những khó khăn vất vả lại còn nguy hiểm tới tính mạng nữa, gia đình luôn lo lắng cho người đó, bao nhiêu vất vả, sống chết không biết thế nào.

Thế nhưng trong thời điểm đó một gia đình khác tiễn một người đi nước ngoài học, họ cũng khóc nhưng hai giọt nước mắt này nó khác nhau. Một giọt nước mắt thương xót khổ đau vì có thể không còn gặp lại, và một giọt nước mắt sung sướng vì một tương lai đây hứa hẹn. Hai cái này cũng đều khóc! Nếu ở bên ngoài nhìn thì đều chảy nước mắt, nhưng ý nghĩa của những giọt nước mắt này nó có sự khác nhau.

Một điểm nữa, khi mà Nhật Thuyết về và nói chuyện với một số các cụ, đặc biệt là bà cụ sinh ra Nhật Thuyết thì thấy giật mình, lúc đó Nhật Thuyết giật mình hiểu ra được một việc:, Người ở ngoài Bắc nếu trong nhà mà có một người mất thì làm cỗ… đình đám lắm, nếu mà không có cỗ là không có được, không có cỗ thì người ta chê trách, người ta nói thì các cụ cũng rất là khó xsử, rồi là con cái mà không chịu khóc thì người ta cũng chửi gia đình là không tốt… bà này là vô phước nên chết mà con cái nó cũng không thèm khóc…. . .(Xin dẫn dắt thêm: ở miền bắc, đặc biệt là các vùng quê có phong tục là nếu cha mẹ chết thì con cái phải khóc lóc rất thảm thiết mấy ngày liền, nếu người nào mà con cái không khóc thì người đó rất „vô phước“. Nếu người nào là tội phạm hoặc là người ăn ở ác thì lúc chết sẽ âm thầm vì mọi người không thèm tới.)

Đấy là những quan niệm ở ngoài đời thường. Chúng ta là những người hộ niệm thì phải làm cách nào gọi là “bản thổ hóa”. Theo pháp hộ niệm thì không được khóc, không được bày cỗ linh đình mà giết hại bao chúng sinh để ăn uống, thế nhưng chúng ta phải hài hòa việc này để làm sao đẹp đời mà hợp đạo thì mới hay. Gọi “bản thổ hóa”, các cụ thường nói: “đáo sông thì tùy khúc, nhập gia thì tùy tục“, khi đưa phương pháp trợ niệm này vào miền Bắc thì phải có một số những điểm nên chấp nhận thì nó mới có thể giúp cho nhiều người khởi tâm cầu vãng sanh được.

Đối với ở miền Bắc Việt Nam nhất là ở các vùng quê, thì mình mà xóa bỏ hết tất cả những thủ tục, những nghi lễ thì sẽ rất khó khăn. Vì nhiều khi các cụ thấy rằng, nếu như mà làm theo những điều kiện như vậy thì sẽ khó mà tránh những lời chê trách của hàng xóm, của họ hàng. Nhiều khi họ dèm pha, mà từ những lời dèm pha này khiến cho những người khác sợ không dám mời ban hộ niệm nữa!!!. Việc này đã thường xuyên xsảy ra.

Khi đi sâu vào nói chuyện thì thấy mọi người bảo là: “Ừ đấy! Cái nhà kia đấy!… Chẳng hiểu vãng sanh vãng siếc thì cũng không rõ, chẳng biết được gì cả,… thế nhưng mà thấy rằng là làng xóm, họ hàng, tất cả mọi người họ đều chê trách“. Họ chê trách thì những người khác họ sẽ thấy một cái: “Thôi! Vãng sanh hay gì thì tôi chưa biết được, thế nhưng mà để cho người ta chửi thì tôi không muốn“. Thế cho nên là các cụ và người nhà cũng không chịu để cho trợ niệm nữa, đó là việc mà mình cần rút ra kinh nghiệm. Nhiều khi ban hộ niệm nói là người này không có duyên. Quả thật chúng ta không phan duyên nhưng cũng cố gắng đừng để sxót… một vị Phật tương lai chúng sanh.

Ví dụ cuộc hộ niệm cho cụ Thịnh ở Hà nội, ban hộ niệm Vĩnh Phúc đã tổ chức rất tốt. Sau khi hộ niệm thành công, gia đình đã thỉnh một sư cô tới làm lễ rất trang nghiêm và long trọng nhưng không rdườm rdà, đẹp đời hợp đạo. Sau đó các cụ già cùng đi chùa với cụ Thịnh thấy vậy rất hoan hỷ về khoe với các con cháu và các cụ khởi tâm muốn được vãng sanh như cụ Thịnh.

Trong quy tắc của trợ niệm là không làm đám tang có kèn trống ầm ĩ, không khóc lóc. Cả miền Bắc bao giờ cũng phải có những việc đó, mà bây giờ mình gạt phăng đi không có thì nó sẽ rất là khó. Cho nên chúng ta phải phân ra hai giai đoạn như thế này.

Giai đoạn đầu tiên là cái giai đoạn mình hộ niệm. Mình hộ niệm bao nhiêu tiếng? Tám tiếng trợ niệm đến mười hai tiếng trợ niệm cho đến lúc thành công. Trong giai đoạn này thì tuyệt đối phải giữ được thanh tịnh tức là chúng ta lúc đó không có được khóc than mà chỉ là khuyến tấn: “Bố ơi! Bố quyết tâm đi về Tây-Phương Cực-Lạc nhé! Bố phải cứu lấy bố nhé! Bây giờ chỉ có bố mới cứu được bố thôi, bố chỉ đi theo đức Phật A-Di-Đà, đừng đi theo bất cứ một ai nhé! Đi theo ai là đều khổ cả, chỉ đi theo đức Phật A-Di-Đà thì mới được sướng thôi“.

Hoặc có đứa cháu nói: “Ông ơi! Bà ơi! Bà chỉ có thể theo đĐức Phật A-Di-Đà nhé, đừng có theo ai nhé. Bây giờ cứ niệm A-Di-Đà Phật“. Xong là tất cả cùng niệm A-Di-Đà Phật! A-Di-Đà Phật! A-Di-Đà Phật!… Như vậy người đang nằm ở đó thần thức đang mơ mơ màng màng khi nghe thấy con cháu hoặc người hộ niệm niệm Phật và nhắc nhở như thế thì nhớ ra… “À đúng rồi! con mình, cháu mình nó bảo phải niệm Phật đấy“. Khi nghe lời nhắc nhở của con cháu lúc đó họ không khởi một cái tâm luyến ái bởi vì đã an tâm rồi, vững vàng rồi, họ chỉ có niệm A-Di-Đà Phật và phát tâm mãnh liệt được về Tây-Phương Cực-Lạc. Lúc này họ đạt được “Hệ niệm không loạn“ như trong Kinh A-Di-Đà đã nói và “Người này sẽ được A-Di-Đà Phật cùng chư Thánh Chúng tới vây quanh, gia hộ cho họ khi xả bỏ báo thân sẽ đi theo A-Di-Đà Phật về thẳng Tây-Phương Cực-Lạc“.

Giống như bây giờ, một người có Visa, có vé máy bay để được đi nước ngoài, nhưng khi chuẩn bị bước lên trên máy bay thì lại bị người thân mà mình thương yêu khóc một cách đau khổ, người này lại quay quyến luyến… có khi là nhỡ máy bay không đi được. Nếu lúc đó tất cả mọi người nói: “Đi nhé! May mắn nhé! Đi đi! lên đấy đi, đến chỗ đấy cho nó sung sướng, đi đi!”… đấy là thúc giục, nó sẽ khác. Thì lúc đó người ra đi đó sẽ có một sự vững vàng, vững tâm, mình đi thế này mọi người đã đều ủng hộ và mong đợi. Việc này khác hẳn với việc người đứng ở ngoài cứ khóc lóc và bịn rịn,… thôi đừng đi! Thôi đừng đi!.

Ngày trước khi Nhật Thuyết đi sang Đức hợp tác lao động đã gặp người rơi vào hoàn cảnh đó rồi. Lúc đó anh chồng đang định đi lên máy bay, cô vợ cứ bế đứa con bé bé khóc, hai mẹ con cứ khóc da diết, thế là cuối cùng anh ấy bỏ luôn đi ra, anh ấy bỏ luôn vé máy bay không đi nữa.Sau đó cả nhà đều hối hận nhưng việc đã xong.

Giai đoạn thứ hai là giai đoạn hậu sự (tang lễ)

Giai đoạn này ban hộ niệm không chịu trách nhiệm nữa nhưng chúng ta nên khuyên gia đình làm sao cho trang nghiêm nhưng vẫn hợp với đời. Nếu con cháu, họ hàng có khóc thì không nên gào thét thảm thiết, không nên mướn người về bắct loa để khóc mướn, nó giả tạo lắm. Thay vào việc khóc mướn thì chúng ta mở băng niệm Phật hoặc tổ chức nhóm ngồi niệm Phật khiến cho không khí nghiêm trang, xóa đi không khí ảm đạm. Việc làm cỗ thì nên làm đồ sẵn chứ không nên giết thịt các chúng sinh ngay trong nhà. Tốt nhất là đặt cỗ người khác làm rồi đưa đến. Chúng ta có thể học theo cách làm của một số chùa miền bắc là làm nửa chay nửa mặn để tiếp khách. Nhưng gia đình thì nên phát tâm ăn chay để hồi hướng cho người vãng sanh.

Nên làm một bàn thờ Phật trang nghiêm có ảnh Phật Di Đà rồi làm bàn thờ người vãng sanh bên dưới. Như vậy khiến cho người tới phúng viếng thấy trang trọng và ấm cúng hơn mà lại giúp cho họ gieo được chủng tử A-Di-Đà vào tâm thức. Qua tiếp xúc với nhiều người Nhật Thuyết thấy việc này rất được sự ủng hộ của mọi người.

Quan niệm của người bắc là nếu đám tang mà có quý Sư đến làm lễ và được đông Phật tử và các cụ niệm Phật là người đó có nhiều phước lắm. Chúng ta nên khai thác sâu vào điểm tốt này để dẫn dụ được nhiều người phát tâm mời ban hộ niệm.

Một đám tang trang nghiêm thành kính, long trọng nhưng không ồn ào phung phí. Như vậy chúng ta đảm bảo việc đời việc đạo được cân bằng.

PHẦN 2

Đấy là một số việc gọi là ”bản thổ hóa”. Mà có mấy điểm vừa rồi Nhật Thuyết hỏi trưởng ban hộ niệm (do chị Hiền đóng vai). Được trưởng ban hộ niệm trả lời, rất cảm ơn và Nhật Thuyết xin bổ sung thêm mấy ý như vậy để chúng ta cùng nắm vững được. Đạo Phật là đạo từ bi và trí tuệ. Chư Tổ sư đi giáo hoá các nơi các Ngài đều bản thổ hoá để gây dựng mà không hề đánh mất cái cốt lõi của đạo.

Chúng ta căn cứ vào các tài liệu của Pháp hộ niệm nhưng cũng nên uyển chuyển để phù hợp với tình hình thực tế của từng ca hộ niệm. Nếu chúng ta cứng nhắc quá sẽ làm pháp hộ niệm gặp nhiều khó khăn và không lưu thông rộng rãi được hơn. Đây cũng là việc chúng ta giải toảỏa vướng mắc băn khoaăn của người bệnh khiến cho họ an tâm niệm Phật mới được vãng sanh đấy.

Khi trò chuyện với một số cụ mà đặc biệt là bà cụ thân sinh của Nhật Thuyết. Lúc đó Nhật Thuyết ngộ được ra một điểm: Rất nhiều cụ muốn được vãng sanh nhưng còn vấn vương lo lắng việc: “Nếu mình vãng sanh xong con cháu nó làm như ngoài đời thì mắc tội với Phật, nếu làm như mấy người hướng đãn nói là không được khóc, không được kèn trống, không được làm cỗ mặn v.v… thì lại bị đời chê cười anh em trong nhà nhiều khi không thống nhất quán được, đôi lúc nhiều khi trở thành vấn đề mâu thuẫn không hay trong gia quyến.

Khi Nhật Thuyết ngộ ra điểm này thì vội vàng chạy sang bên quê chỗ ông bà ngoại. Hai ông bà niệm Phật rất siêng, cầu mong được vãng sanh. Nhưng ông cụ lại là trưởng họ của một dòng họ lớn ở đấy, nên vẫn còn băn khoăn. Hôm đó Nhật Thuyết mới xin phép mời ông chú ruột (nhà cụ chỉ có hai anh em trai còn lại bốn chị em gái), người anh trai cùng với ông bà ngồi để Nhật Thuyết xin được trình bày lại về việc này. Khi nghe Nhật Thuyết nói xong cả nhà như cởi được gánh nặng, vui mừng ra mặt.mặt. Trước đó các cụ muốn được vãng sanh thế nhưng mà chỉ lo là không thể thực hiện được việc yêu cầu của các con về việc tổ chức đám tang, việc cỗ bàmn v.v… Thế là bây giờ cởi giải quyết được cái việc nỗi lo này ra rồi thì các cụ mừng lắm. Cụ bảo: Như thế này thì bố yên tâm, rất là ủng hộ. Bố cũng muốn vVãng sinh lắm, thế nhưng mà vì còn sợ rằng con cháu sau này bị dân làng người ta chửi, dòng tộc dèm pha. Mình giải toả được việc này là ông cụ vui mừng lắm. Ông chú cũng ủng hộ ngay. Ông chú bảo: “Được như vậy thì chú thím cũng rất là ủng hộ“. Lúc đó mình mới giật mình mà hiểu được ra rằng miền Bắc mình vẫn còn nặng nề xem trọng trong việc này. Nếu mình yêu cầu quá khắt khe là có khi làm mất phần vVãng sinh của người khác. Vì nhiều yêu cầu của họ mình không đáp ứng được là người ta tìm cách từ chối việc hộ niệm, hoặc còn vướng mắc trong lòng nên mất phần vãng sanh.

Hôm nay cũng đã hết giờ chúng ta trao đổi với nhau.

(Nhật Thuyết hỏi ông Cụ Trường)

– Ông có còn nhìn thấy con không ông?

– Có nhìn rõ lắm

– À ông nhìn thấy con rõ. Ông nghe thấy con nói có rõ không ông?

– Rõ lắm.

– Bây giờ xin tất cả các Đạo Tràng chúng ta cho một tràng pháo tay cổ vũ ông cụ Trường, vì từ hôm ông lên đây với anh con trai là anh Chinh, chị Mai, là ngày nào ông cũng niệm Phật rất là tinh tấn, cũng rất mừng là ông có được những Thiện căn, Phước đức như vậy. Chắc là anh Chinh cũng đã giải thích cho ông một số việc: ví dụ như Tây-Phương Cực-Lạc về đấy có sướng không? Tại sao mình về Tây-Phương Cực-Lạc?

– Ông nghe ông có còn thấy những điểm gì mà ông còn thắc mắc không ông? Tức là còn có chỗ nào chưa hợp lý thì ông có thể đưa ra để chúng con phân tích với nhau, và cùng nhau học tập ạ.

– Tôi không có thắc mắc gì!

– À, Ông không có gì ạ.

– Thế bây giờ ông có muốn vVãng sinh về Tây-Phương Cực-Lạc không ông?

– Có muốn.

– Dạ, vỗ tay….hoan hô.

– Ông thấy tất cả mọi người cũng vui mừng lắm.

Bây giờ ông muốn được Vãng sinh về Tây-Phương Cực-Lạc. Vãng sinh về Tây-Phương-Cực Lạc rất là dễ, nó dễ ở cái điểm là ông cần phải tin tưởng, tức là ông tin tưởng ông có thể được vVãng sinh về Tây-Phương Cực-Lạc, ai cũng được có phần, chỉ làm đúng là được. Việc thứ hai là ông muốn về Tây-Phương Cực-Lạc thì cần phải phát nguyện như thế này:

“Nam mô A Di Đà Phật! con tên là Tạ Văn Trường, xin Đức Phật A Di Đà cho con về Tây Phương Cực Lạc“. hoặc là mình chỉ nói thế này:

Con muốn được vVãng sinh về Tây Phương Cực Lạc – Nam mô A Di Đà Phật“

Anh Chinh chị Mai chú ý nhé ngắn gọn như vậy thôi, mình không cần phải phát Nguyện dài dòng. Nhưng phải chân thành và kính cẩn.

Muốn về Tây-Phương Cực-Lạc, về chỗ sung sướng thì mình cũng phải có tâm mong muốn. Đối với Chư Phật thì khi cái đầu này mình nghĩ ra mình muốn về đó thì đĐức Phật đã hiểu ngay. Thế cho nên là mình cứ phát một cái tâm và mình nói ra “Nam mô A Di Đà Phật cho con về Tây Phương Cực Lạc“ thế cũng được rồi. Và hàng ngày ông cố gắng có thời gian ông niệm Phật, cố gắng lấy thời gian được dài dài một chút thì tự nhiên đầu óc của mình nó sẽ minh mẫn, bởi vì tuổi già thì thường bị lão hóa dần dần. Nhưng khi người có niệm Phật thế này cho tới chín mươi tuổi đầu óc cũng không có vấn đề gì cả. Là bởi vì câu A-Di-Đà Phật có một tần số rất là tích cực, tức là có từ trường vật lý rất tích cực, từ trường này nó ảnh hưởng tới cơ thể mình. Theo chứng minh của giới khoa học thì từ trường của câu A-DI-Đà Phật làm cho những tinh thể nước kết thành một bông hoa phát ánh sáng rất là đẹp. Mà cơ thể chúng ta có trên bảy mươi phần trăm là nước, và trong não mình có trên chín mươi phần trăm là nước. chính vì vậy khi người niệm câu A-Di-Đà Phật thì cái ảnh hưởng tốt của từ trường sẽ làm cho cơ thể mình nó thay đổi và đặc biệt là cho bộ não mình thay đổi rất là nhiều, chính vì vậy mà các cụ già có niệm Phật thì thường là da dẻ rất hồng hào, rất là minh mẫn. Vật lý có thể đã chứng minh được rồi, chúng con thật là mong và cũng rất là mừng cho ông vì ông có được những người con, người cháu rất là hiếu thảo. Chắc là ông cũng đã từng được nghe Tuồng Mục Kiền Liên cứu mẹ rồi. Tại sao trong số Đại đệ tử của Đức Phật mà Ngài Mục Kiền Liên lại được phong là Đại hiếu? Là bởi vì Ngài đã cứu được người mẹ đã trchót rơi xuống Địa ngục, Ngài đã nhờ được sức của Chư Tăng và của Đức Phật gia trì cho nên lúc đó Ngài đã cứu được mẹ mình từ ở dưới lên đến Cảnh giới Trời nên được Đức Phật phong cho là Đại hiếu Mục Kiền Liên.

Bây giờ con cái mà giúp cho cha mẹ được về Tây-Phương Cực-Lạc để thành Phật thì Đức Phật cũng phong cho những người đó là Đại-Đại hiếu. Trong cuộc sống bình thường này, người phụng dưỡng cho cha mẹ ăn uống đầy đủ, vật chất được sung sướng, tất cả chiều chuộng theo ý, đấy mới chỉ là Hiếu thôi, đấy là người con cháu hiếu thảo. Nhưng nếu muốn được gọi là Đại hiếu thì lại phải giúp cho cha mẹ mình sau khi xả bỏ báo thân này được xiêu thoát đến chỗ sung sướng.

Đấy là một số điểm mà hôm nay con cũng xin phép được trao đổi với ông và với tất cả các quý đồng tu.

Bởi vì con vẫn còn là phàm phu, nên trong khi con nói chuyện có điểm gì mà còn sơ sxuất thì xin ông và tất cả các quý đồng tu cũng xá cho.

Con cũng mong ông có được những ngày rất là an lành để niệm Phật bên cạnh những người con người cháu hiếu thảo của ông.

Và cũng xin chúc tất cả các quý vị đồng tu thân tâm được an lạc.

Nam mô A-Di-Đà Phật!

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *