Sự đối trị khác nhau.

Print Friendly, PDF & Email

Sự đối trị khác nhau.

 

Hỏi:

Trong ẤN-QUANG ĐẠI SƯ GIA NGÔN LỤC có 1 đoạn như sau:

“Có một vị Phật tử lên thăm Tổ Ấn-Quang. Ngài nói ngươi đi đâu đó?

Vị Phật tử đáp: Dạ! con lên thăm Sư Phụ. Ngài bèn nói: Ngươi không ở nhà lo niệm Phật tu hành, hôm qua ngươi mới lên đây rồi mà”.

Nhưng trong băng giảng Kinh Vô-Lượng-Thọ, HT. Tịnh-Không lại giảng: “…do đây có thể biết tu hành không phải nhốt ở trong nhà để tu, nhốt ở trong nhà quyết định tu không thành. Cái điểm này các vị đồng tu cần phải biết, nhốt ở trong nhà hưởng phước, hưởng phước thì làm gì trí tuệ có thể sanh khởi được. Không có đạo lý này…”.

Hình như 2 câu nói của Tổ và HT đối nghịch nhau phải không? Mong Cư sĩ giảng giải giúp HP hiểu về vấn đề này.

 

Trả lời:

Kính Thầy HP,

Thầy đưa ra mấy vấn đề khá hay, nên Diệu-Âm cố gắng phân tích, hy vọng giải tỏa được phần nào hay phần đó, chứ không dám cho là đầy đủ.

Trước tiên, khi nghe giảng pháp chúng ta cần phải cẩn thận xét xem các Ngài đang giảng về gì, nói trong trường hợp nào, đại chúng là ai? Vì thực ra, các Ngài giảng có lúc chung, có lúc riêng, sự đối trị theo từng đối tượng khác nhau. Chính vì thế nhiểu lúc chúng ta thấy hình như có sự trái nguợc nhau, chứ thực ra không phải vậy đâu.

Một lời giảng, một câu nói đều tương ứng với một vấn đề. Ví dụ, một người ưa ồn náo, thích chỗ đông người, hay tụ năm tụ bảy để nói chuyện, thì dù có thường tới chùa, cũng chỉ vì thấy cảnh chùa đẹp, là chỗ đông người, thấy cảnh sinh hoạt nhộn nhịp, vui vẻ mà đến, chứ chưa chắc là đến chùa để tu tập. Đối với những người này, gặp mặt thì các Ngài có thể nghiêm khắc cảnh cáo: “Sao không ở nhà lo niệm Phật mà tới đây làm chi?”. “Sao không vào chánh điện lạy Phật, tới gặp ta có ích gì?”. Các Ngài không cho phép la cà nói chuyện.

Ấn Tổ đã khiển trách một người Phật tử tới thăm Ngài, có lẽ trong trường hợp này.

Người biết huân tu thì cần nên tránh xa những chỗ ồn ào náo nhiệt mới có hy vọng thành tựu. Những chỗ đông người là nguồn gốc của phiền não, ảnh hưởng không tốt đến sự thanh tịnh, gây trở ngại cho việc tu định, tu huệ.

Trong kinh Đại Báo-Tích, đức Phật có dạy rằng, trong thời mạt pháp 500 năm về sau, người tu hành muốn được thành tựu thì phải xa lìa những nơi náo nhiệt.

500 năm trong thời mạt pháp chính là thời đại hiện nay.

Cảnh chùa cần nên giữ trang nghiêm thanh tịnh để tu hành thì mới tốt, chứ không nên tạo cảnh sinh hoạt quá nhộn nhịp. Người thực tâm tu hành nên tìm cách lánh xa những nơi ồn náo. Đạo nghiệp được thành tựu là chính, hoàn cảnh sinh hoạt thịnh vượng là phụ. Thịnh-Vượng và Thành-Tựu là hai vấn đề khác nhau. Thịnh-Vượng là điều ham muốn của người thế gian. Thành-Tựu là mục tiêu của người tu hành.

Chính vì thế, Ấn-Quang Tổ Sư luôn luôn coi trọng sự thành tựu của người tu hành chứ không chú trọng sự phát triển tháp tự. Ngài nói, một đạo tràng thành tựu là nơi có người Vãng-Sanh chứ không phải là chỗ có nhiều người lui tới thăm viếng. Ngài khuyến khích đồng tu liên hữu lập thành những nhóm nhỏ để cùng nhau kết bè niệm Phật và hỗ trợ nhau để được Vãng-Sanh. Cần tránh những sinh hoạt đông đảo ồn náo, giảm thiểu lễ lộc phiền toái đễ dễ được thanh tịnh niệm Phật. Một chứng minh hết sức cụ thể là trong mấy năm qua, ở Việt-Nam, chính những nhóm cộng tu nhỏ lập thành những Ban-Hộ-Niệm, đã cứu khá nhiều người Vãng-Sanh. Công đức này không thể không tán thán được.

Hẳn nhiên, một đạo tràng lớn, đông người, nếu gìn giữ được sự trang nghiêm thanh tịnh để tu tập thì công đức thực sự vô lượng vô biên.

Hòa Thượng Tịnh-Không nói, Bồ-Tát có thể ra giữa chợ để tu định. Các Ngài thành tựu. Còn chúng ta tìm đến chỗ ồn náo sẽ bị đọa lạc. Đối với Huệ-Hạnh Bồ-Tát thì phiền não chính là Bồ-Đề, còn với Sơ-Học Bồ-Tát thì phiền não vẫn là phiền não, không thể trở thành Bồ-Đề được! Huệ-Hạnh Bồ-Tát là người đã minh tâm kiến tánh. Sơ-Học Bồ-Tát là chỉ cho phàm phu chưa khai ngộ. Ngài nói, người biết tu trong thời đại này cần phải tránh xa những chỗ đông người, xa rời nơi náo nhiệt mới có thể thành tựu. Những lời này là các Ngài dành riêng cho hàng phàm phu sơ học.

Ấy thế, cũng có lúc chúng ta lại nghe thấy các Ngài nói những  lời hình như trái ngược. Ví dụ, đối với người thích đóng cửa tu hành hoặc tìm những nơi thanh vắng âm thầm tự tu thì lại bị Ngài chỉ trích. Các Ngài khuyên nên mở cửa đi ra sinh hoạt với đại chúng. Nhiều lời giảng mang ý trái ngược nhau làm cho hàng sơ học chúng ta cảm thấy phân vân, nghi hoặc!

Thực ra không phải các Ngài nói điều mâu thuẫn, mà chính là đang giảng ở những cảnh giới khác nhau, nêu ra những vấn đề tiêu cực khác nhau, có sự đối trị khác nhau.

Ví dụ, người hạ căn phàm phu nghiệp nặng phước mỏng, cần phải song tu cả phước lẫn huệ mới tốt. Phước là làm thiện; Huệ là niệm Phật cầu Vãng-Sanh Cực-Lạc. Làm thiện là làm lợi cho người, người chỉ lo làm lợi cho chính mình thì bất thiện. Nhiều người cứ đóng cửa nằm ở nhà, rồi khoe rằng muốn thanh tịnh để nhiếp tâm niệm Phật, nhưng thực ra là người giải đãi, thích hưởng phước, còn việc nhiếp tâm niệm Phật chỉ là phần phụ thuộc, hoặc là hình thức bên ngoài. Nặng hơn nữa, có người lây cái tâm vì mình ra mà phê phán những người phát tâm xả thân vì chúng sanh phục vụ. Thật là tâm Chấp Trước, vì danh văn lợi dưỡng mà tu. Tu như vậy, Huệ không có mà Phước lại giảm. Phước-Huệ đều bị tổn hao, thì làm sao có thể được thành tựu!…

Hẳn nhiên, nếu người thực sự nhiếp tâm niệm Phật, tâm đã khai ngộ tu đúng chánh pháp thì đây là điều đại thiện. Công đức vô lượng. Chắc chắn các Ngài sẽ tán thán.

Trong thời đại này, người hạ căn nghiệp nặng không nên đóng cửa âm thầm tự tu. Một là, thường giải đãi, lười biếng, công phu khó có thể đắc lực! Hai là tâm trí mê mờ, chưa khai ngộ mà tự tu khó tránh khỏi điều sơ suất. Tự tu thì tự nghiên cứu lấy đường đi, nếu bị lạc đường thì khó có cơ hội quay đầu! Đây thực sự là điều quá nguy hiểm, nhất là thời mạt pháp này!…

Ví dụ một trường hợp khác, ngài Ấn-Quang luôn luôn chủ trương ăn chay làm thiện, còn ngài Tĩnh-Am lại nặng lời la rầy một Phật tử làm việc thiện lành, chuyên tâm bố thí cúng dường rộng khắp. Ngài nói, suốt đời lo làm việc thiện, còn việc thoát ly sanh tử luân hồi thì sao đây? Làm thiện, dù cho việc thiện lớn tới đâu cũng chỉ là thế gian pháp, không thoát ly tam giới được.

Hai lời dạy mới nghe qua quá trái ngược nhau! Nhưng thực ra, xét kỹ từng trường hợp, thì không có gì chống trái với nhau cả.

Ngài Ấn-Quang nhìn thấy con người trong xã hội ngày nay gây tạo nghiệp ác quá nặng, Ngài mới hô hào làm thiện, lánh ác. Ngài thường khuyên nên noi gương theo ông Viên Liễu Phàm, phát tâm làm nhiều việc thiện lành, lấy thiện phá ác, để được hưởng quả báo tốt đẹp. Ngài tích cực dạy chúng sanh hiểu về luật Nhân-Quả để cải tạo vận mệnh của chính mình, cải tạo xã hội đang trong cơn đen tối. Còn trung tâm lời dạy của Ngài vẫn chính là: “Đôn luân, tận phận, nhàn tà, tồn thành. Lão thật niệm Phật, cầu sanh Tịnh-Độ”, (Nghĩa là, tròn luân thường đạo đức, tận hết bổn phận làm người, ngăn ngừa tà tâm tà hạnh, giúp người khác làm điều thiện lành. Thật thà chuyên lòng niệm Phật, cầu Vãng-Sanh Tịnh-Độ). Rõ ràng, thế gian và xuất thế gian đều được viên mãn. Vế thứ nhất lo về nhân quả, pháp thiện lành của thế gian. Vế thứ hai lo đường giải thoát, pháp đại thiện lành xuất thế gian.

Cũng là một mục đích giúp người làm việc đại thiện để vượt thoát tam giới, nhưng đặc biệt để phá cái chấp trước sai lầm, Ngài Tĩnh-Am mới la rầy một người làm thiện, chỉ vì ông ta đã lấy việc thiện lành của thế gian làm chính, cho đó là đủ, không chịu nghĩ đến chuyện Vãng-Sanh thành đạo. Ngài nói, việc thiện càng lớn thì sanh tử càng nặng, nếu còn vướng ý niệm này thì muôn kiếp vẫn phải chịu đọa lạc, trầm luân.

Thật sự chủ tâm của các Ngài hoàn toàn giống nhau, chỉ vì đối trị khác nhau nên ngôn từ mới hình như trái ngược.

Học về nhân quả báo ứng, HT Tịnh-Không cũng tích cực tuyên dương sách “Liễu Phàm Tứ Huấn” của ông Viên Liễu Phàm. Ngài khuyên mỗi người nên đọc tập sách này 300 lần mới ngộ được đạo lý cao siêu bên trong. Có người nghe vậy, đã lấy sách này làm kim chỉ nam để tu tập. Đây là quyết định quá vội vã, thiếu cẩn thận! Họ có biết đâu, khi giảng đến mười đại nguyện vương của Phổ-Hiền Bồ-Tát, chính HT Tịnh-Không có nói, “Liễu Phàm Tứ Huấn” vẫn chỉ là tập sách nêu gương về Nhân-Quả, đây là điều căn bản của người tu hành, chứ không thể giúp liễu thoát sanh tử luân hồi.

Lời phía sau, nghe qua, hình như Ngài đã phủ nhận lời tuyên dương phía tước. Nhưng thưa không, chỉ vì cảnh giới giảng đã khác rồi vậy. Do đó, khi nghe pháp, chúng ta cần phải cẩn thận, chớ vội trích đoạn một cách khô khan mà dẫn đến chỗ sai lầm!.

Những lời nói hình như trái ngược này ngay trong kinh Phật cũng thường xảy ra. Ví dụ như kinh Kim-cang bát-nhã Phật dạy Không Chấp, Không Cầu, trong khi kinh A-di-đà Phật lại dạy Phải Chấp, Phải Cầu. Chấp là chấp trì danh hiệu A-di-đà Phật mà ngày đêm chuyên niệm. Cầu là cầu Vãng-Sanh Tịnh-Độ một cách tha thiết. Thật là ngược nhau! Nhưng sự trái ngược này chỉ trên phương diện lời nói, chứ còn ý chính thì tương đồng. Chỉ vì phải dạy cho từng đối tượng khác nhau, nên Phật phải dùng phương tiện ngôn thuyết đó thôi.

Ngôn từ thực sự quá hạn chế! Một lời giảng không thể giảng đến bao trùm pháp giới được.

Một kinh Ngài chỉ dành cho hàng đại Bồ-Tát tu hành, thì lời lẽ toàn là Lý-Đạo cao siêu, dành cho hàng Đại Bồ-Tát thực hành. Một kinh Ngài dạy cho tất cả chúng sanh muốn được một đời này Vãng-Sanh thành đạo, lời lẽ chứa đầy Sự-Đạo vững chắc để một phàm phu hành trì thành đạo. Lý-Sự không hai, chỉ có người quá chấp trước mà thực hành sai đường vậy!

Cho nên, Phật dạy, phải y theo ý nghĩa chớ nên y theo ngôn từ. Khi xem kinh, nghe pháp chúng ta cần phải hiểu vấn đề này mới tránh sự phân tâm, lạc đường.

 

A-Di-Đà Phật.

Diệu-Âm.

(06/08/2010)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *